Cuộc thi "Việt - Lào trong trái tim tôi" có số lượng người tham gia đông đảo. Nhiều tác phẩm dự thi công phu, độc đáo và khá... nặng. Nhưng nặng hơn, ấm lòng hơn là khi mở từng trang sách, thấy hiện lên Trường Sơn hùng vĩ, thấy những cánh rừng Lào thăm thẳm, những dòng sông Việt mênh mang và bập bùng lửa rừng đêm hội, những điệu múa lăm-vông thức đợi bình minh...
Tôi đã đọc đâu đó những câu, những ý ấy trong hàng trăm tác phẩm được các anh trong Ban tổ chức cuộc thi ưu ái cho xem. Cách đây vài năm, Thiếu tướng, nhà văn Nguyễn Chuông - từng là một Trung đoàn trưởng xông pha trận mạc trên chiến trường Cánh Ðồng Chum - Xiêng Khoảng tặng tôi cuốn sách quý do ông viết: "Dặm dài trên đất Triệu Voi".
Tôi đọc một mạch trong đêm và chú ý nhất đoạn hồi ức "Nằm trong chum giữa Cánh Ðồng Chum". Hồi đó chuẩn bị cho Chiến dịch Ðông - Xuân 1971 - 1972, trung đoàn 165, sư đoàn 312 do Nguyễn Chuông làm Trung đoàn trưởng có vinh dự tham gia chiến đấu trên cao nguyên đầy máu lửa này. Có 12 cán bộ, chiến sĩ của trung đoàn khi đi điều tra, phục vụ công tác chỉ huy chiến dịch đã phải giấu mình trong những chiếc chum đá.
Những chiếc chum ấy đã che chở các anh giữa bốn bề đồn, bốt địch, nắng lửa chang chang suốt ngày. Và những chiếc chum đá mà người dân Lào đục đá ra để đựng thóc, gạo, ngô đã thành tấm lá chắn kiên cố cứu các anh khi chỉ cách quân địch vài trăm mét.
Nguyễn Chuông đã đi xa. Tôi nhớ câu chuyện nhuốm mầu huyền thoại này khi đọc bài dự thi của em Bùi Lan Chi, sinh viên lớp 4B, K54, khoa Việt Nam học, Ðại học Sư phạm Hà Nội. Trả lời câu hỏi: "Bạn hãy viết cảm nhận của mình về quan hệ Việt - Lào". Chi xúc động kể về người bố của mình. Ông đã chiến đấu ở Cánh Ðồng Chum - Xiêng Khoảng trong thời kỳ ấy.
Tuy không có hình ảnh những cái chum đá trong bài dự thi, nhưng đất nước Lào, cuộc chiến đấu ngoan cường của bộ đội Pa-thét Lào và Quân tình nguyện Việt Nam được ghi lại chân thực và sống động. Cô sinh viên theo ngành Việt Nam học ấy có một mơ ước giản dị: được đến thăm cao nguyên Cánh Ðồng Chum, đi trên những con đường rừng cháy đỏ mà cha cô và đồng đội đã đi. Cô cho rằng, thái độ đối với quá khứ của dân tộc là một góc tiếp cận rất căn bản khi nghiên cứu Việt Nam.
Tôi nhớ lại những dòng hồi ức của Thiếu tướng Nguyễn Chuông khi trân trọng nâng niu những kỷ vật của vợ chồng cựu chiến binh Lê Reo và Ðỗ Thị Yên. Vợ chồng người lính ấy đã tham gia chiến đấu ở chiến trường Lào từ năm 1965 đến năm 1975, thuộc Ðoàn công binh 216-217. Cùng với bài dự thi là những kỷ vật quý giá được cất trong chiếc hộp nhôm kính. Ðó là mảnh khăn dù; chiếc đĩa đựng tách chén bằng xác máy bay địch; lưỡi cuốc chim đào hầm; những bức thư, những dòng nhật ký viết trong chiến hào... "Thư bất tận ngôn, ngôn bất tận ý", lời nào nói hết kỷ niệm và cảm xúc của mình. Thôi thì xin gửi lại những kỷ vật mười năm máu lửa trên xứ sở hoa chăm-pa tới các bác, các anh chị. Vợ chồng ông Lê Reo đã ra Hà Nội, đến Tòa soạn báo Nhân Dân để trao tặng kỷ vật này.
Khi về thị trấn Kinh Môn, huyện Kinh Môn, Hải Dương quay một cuốn phim tư liệu, các phóng viên ở Ban Nhân Dân điện tử kể lại rằng, trông thấy anh thương binh hạng 1/4 Nguyễn Ðức Nguyên, xúc động quá. Anh bị cụt cả hai chân, vẫn là gương sáng làm kinh tế giỏi. Trong cái chuồng lợn chín mét vuông có bảy con lợn to sắp xuất chuồng. Ngoài chăn nuôi, anh còn "trông nom" cái máy photocopy. Cái máy suốt ngày kẽo kẹt nhả ra chữ nghĩa và gom góp từng nghìn đồng lẻ. Vợ chồng anh có hai đứa con học giỏi nổi tiếng vùng này. Biết tin có cuộc thi, Nguyễn Ðức Nguyên hì hục đọc sách báo, gọi điện thoại sưu tầm tài liệu, rồi cứ ngồi trên xe lăn mà viết, mồ hôi nhòe chữ, lại thay tờ giấy khác.
Thưa bác Nguyễn Chuông, có một sĩ quan trẻ đang rất say sưa sưu tầm tài liệu về đất nước Lào, về tình nghĩa thủy chung của hai dân tộc cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn. Anh nói là đã đọc nhiều tác phẩm của bác. Anh là Ðoàn Ðức Phương, mới 28 tuổi, đang công tác tại đoàn 34, Cục bảo vệ an ninh, Tổng cục Chính trị. Phương là cử nhân triết học, vừa được kết nạp Ðảng tháng 7-2007. Năm 2000, khi đang học tại Ðại học Quốc gia Hà Nội, Phương được bầu chọn Gương mặt trẻ tiêu biểu.
Tham dự Cuộc thi: "Việt - Lào trong trái tim tôi", "nhà triết học" lại tỏ rõ năng khiếu một "nhà đóng tàu". Anh thiết kế mô hình một con tàu, nguyên liệu bằng nhôm kính đang vượt sóng. Hai lá cờ Việt - Lào tung bay trên cột buồm lớn. Thành tàu ghi dòng chữ trắng nổi bật: "Việt - Lào hai nước chúng ta/ Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long". Trên "chiếc tàu" ấy chở hai "văn kiện", trong đó có một cuốn trả lời năm câu hỏi rất công phu và một cuốn phụ lục.
Các anh chị ở Ban Quốc tế, báo Nhân Dân kể cho chúng tôi nghe câu chuyện về một bác đã 77 tuổi, cơm nắm gạo gói tìm đến cây đa 71, Hàng Trống để liên hệ xin tài liệu, viết bài dự thi. Bác là Vũ Tiến. Ông kỹ sư về hưu này khá nổi tiếng ở khu 3, phường Bình Hàn, TP Hải Dương. Chỉ riêng câu chuyện năm 2003, bác Vũ Tiến được tặng giải đặc biệt trong cuộc thi : "Việt - Lào trong trái tim tôi" do Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị Việt - Lào - Hội Hữu nghị Việt-Lào - báo Tiền Phong tổ chức, đã khiến bà con khối phố hết lòng ngưỡng mộ. Lần thi này, các con bác lại thay nhau "chở" bố ra thư viện tỉnh, tòa báo tỉnh, rồi về thủ đô, vào tận miền trung, tìm tư liệu, tìm gặp các nhân chứng lịch sử. Tác phẩm dự thi của bác Vũ Tiến được viết tay nắn nót, tuy nhiều chỗ nét chữ hơi run. Cuốn sách dày 855 trang, có 1.044 bức ảnh, trong đó có 289 ảnh mầu.
Giải nhất cá nhân được trao cho Trung úy Nguyễn Xuân Ninh, 24 tuổi, ở Trường quân sự Quân khu Thủ đô. Số điểm của tác phẩm gần như tuyệt đối, chính xác và sâu sắc. Trung úy đã thật công phu khi in thành ba tập: một tập tiếng Việt, một tập tiếng Anh, một tập in chữ nổi dành cho người khiếm thị. Và đặc biệt, tập sách in tiếng Việt được in trên giấy ngọc trai. Những tấm ảnh minh họa rải rác ở các trang long lanh hắt sáng.
Tôi có may mắn được gặp hai bạn trong nhóm "An ninh Việt - Lào" thuộc Học viện An ninh Nhân dân. Ðó là hai sinh viên Vũ Hữu Quân và Lê Văn Hiếu. Quân kể: "Nhóm chúng em có 27 người, toàn là sinh viên khá, trong đó có ba sinh viên Lào. Bọn em khởi động công trình từ đầu tháng 9, chia thành năm nhóm, giao việc, "gõ" nhau tóe lửa, đúng 30-10 thì hoàn thành". Hỏi: "Từ thiết kế đến thi công, khó nhất là khâu nào ?". "Ôi, nhiều cái khó. Khó nhất là tìm tư liệu ở đâu. Có rồi thì tư liệu nào là chuẩn. Rồi tìm ảnh nào minh họa. Bạn Xu Mi Xay tích cực lắm, thức trắng đêm dịch sang tiếng Lào. Bạn ấy bảo, tiếng Việt thật đẹp, nhưng các từ mang tính địa phương rất khó dịch cho thoát nghĩa". Tác phẩm dự thi của nhóm, theo các anh trong ban tổ chức cho biết... nặng hơn 20 cân, được in trên giấy ảnh, khổ giấy A3. Hỏi: "Công trình này làm xong, các bạn có hài lòng không? Các bạn sẽ tặng cơ quan nào?". Ðáp: "Nếu dự thi lần sau, chúng em sẽ có kinh nghiệm hơn, nhất định phải độc đáo hơn, hấp dẫn hơn. Chúng em có ý định tặng các bạn Lào mang "bộ sưu tập" này về thủ đô Viêng Chăn".
Hơn 1,2 triệu bài tham gia cuộc thi, với bao tấm lòng, tình cảm, niềm vui, niềm tin, niềm tự hào về tình nghĩa thủy chung son sắt Việt - Lào. Có cụ 92 tuổi, có các em thiếu niên đang học phổ thông cơ sở, có anh bộ đội, công an, có chị nông dân, thầy giáo, thầy thuốc... cùng dành thời gian quý giá để đọc, để nhớ, để nghĩ, để viết.
Và như nhiều bác, nhiều anh chị tâm sự: Tham gia không phải cốt lấy Giải, mà muốn ôn lại những dòng hồi ức, những kỷ niệm khó phai mờ, xin gửi những tình cảm chân thành của một lớp người, một thế hệ đã chiến đấu, học tập, công tác, kề vai sát cánh cùng nhau đến những người đồng chí, đồng đội và thế hệ mai sau của hai dân tộc anh em.
Thêm nhớ, thêm yêu những Viêng Chăn, Cánh Ðồng Chum, Xa-la-van, Sê-công, Khăm Muộn, Sầm Nưa...
Thêm nhớ, thêm yêu những Trường Sơn đông nắng, tây mưa, những Mê Công, Ngàn Sâu, Ngàn Phố...
Xa ma khi - Ðoàn kết ! Xa ma khi - Ðoàn kết!
Vĩ thanh của cuộc thi lắng đọng, ngân vang.
(Nhân dân)

