THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ ĐẠI HÀN DÂN QUỐC
I. Các vấn đề chung
- Tên nước: Đại Hàn Dân Quốc, gọi tắt là Hàn Quốc. Tên chính thức tiếng Anh là Republic of Korea (ROK) (không gọi là Nam Hàn, Nam Triều Tiên, Cộng hòa Triều Tiên).
- Thủ đô: Xơ-un (Seoul), dân số 10,385 triệu người (04/2014).
- Thành phố lớn: Busan, Daegu, Daejon, Kwangju, Incheon, Ulsan.
- Vị trí địa lý: Ở phía Nam Bán đảo Triều Tiên; Đông, Tây, Nam giáp biển; Bắc giáp Triều Tiên qua giới tuyến quân sự chạy dọc vĩ tuyến 38o Bắc.
- Diện tích: 99.720 km2 (toàn bán đảo: 222.154 km2)
- Khí hậu: Khí hậu ôn đới, có 4 mùa rõ rệt.
- Dân số: 49,04 triệu người (03/2014).
- Dân tộc: Chỉ có 1 dân tộc là dân tộc Hàn (Triều Tiên).
- Tôn giáo: Phật giáo 10,7 triệu; Tin lành 8,6 triệu; Thiên chúa 5,1 triệu; Nho giáo 104 nghìn...
- Ngôn ngữ: Tiếng Hàn Quốc (một tiếng nói, một chữ viết).
- Tiền tệ: Đồng Won (tỉ giá thời điểm 30/05/2014: 1USD =1.040 won)
- Quốc khánh:
+ Ngày 03/10/2333 trước Công nguyên: Ngày Lập quốc, còn gọi là Lễ Khai thiên. Cơ quan đại diện ở ngoài nước tổ chức chiêu đãi.
+ Ngày 15/8/1945: Ngày Giải phóng (Bán đảo Triều Tiên thoát khỏi sự chiếm đóng của Nhật Bản). Tổ chức mít tinh kỷ niệm long trọng, Tổng thống đọc diễn văn. Lãnh đạo các nước gửi điện mừng.
+ Ngày 15/8/1948: Thành lập Chính phủ Đại Hàn Dân Quốc.
- Lãnh đạo chủ chốt hiện nay:
+ Tổng thống: Pắc Cưn Hê (Park Geun Hye), từ 25/2/2013.
+ Thủ tướng: Chơng Hông Uân (Jeong Hong Won), từ 26/2/2013.
+ Chủ tịch Quốc hội: Chung Ưi Hoa (Chung Ui Hwa), từ 29/5/2012
+ Bộ trưởng Ngoại giao: Yun Biêng Sê (Yun Byeong Se), từ 11/3/2013.
II. Khái quát lịch sử, đất nước, con người
1. Lịch sử
Dân tộc Triều Tiên có khoảng 5.000 năm lịch sử. Năm 2333 trước Công nguyên, nước Ko-Choson (Cổ Triều Tiên) ra đời, bao gồm cả vùng Mãn Châu, Hoa Đông (nay thuộc Trung Quốc) và Bán đảo Triều Tiên. Nhà nước này tồn tại khoảng 1.000 năm, liên tiếp bị nhà Chu, nhà Hán (Trung Quốc) xâm lược.
Năm 57 trước Công nguyên, ba nhà nước phong kiến mới lần lượt hình thành là Ko-Guryo (Cao Cú Lệ) bao gồm phía Bắc Bán đảo và vùng Mãn Châu, Trung Quốc, Paekche (Bách Tế) và Shilla (Tân La) ở phía Nam Bán đảo, còn được gọi là thời kỳ Tam quốc. Năm 668, Shilla thôn tính Ko-Guryo và Paekche, lập nên triều đại Shilla thống nhất, kéo dài gần 3 thế kỷ (668-918). Từ 918-1392, vua Wang Kon lập ra nước Koryo (Cao Ly, nhà Vương), lấy Thủ đô là Kaeseong (Khai Thành). Từ 1392-1910, vua Ly Song Gye lập ra nước Choson (Triều Tiên, nhà Lý), rời đô về Xơ-un (1394), vua Sejong (triều vua thứ tư) đã sáng tạo ra bảng chữ cái Hangul mà ngày nay vẫn đang được sử dụng.
Năm 1910, Nhật Bản thôn tính Bán đảo Triều Tiên. Năm 1945, Bán đảo Triều Tiên được giải phóng và bị chia cắt, hình thành hai nhà nước theo hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau lấy vĩ tuyến 38o Bắc làm ranh giới: phía Nam là Đại Hàn Dân Quốc (thường gọi là Hàn Quốc, tên tiếng Anh là Republic of Korea) và phía Bắc là CHDCND Triều Tiên (tên thường gọi là Triều Tiên, tên tiếng Anh là Democratic People’s Republic of Korea).
Ngày 25/6/1950 nổ ra cuộc chiến tranh Triều Tiên, lúc đầu là giữa hai miền Triều Tiên và sau đó là sự tham chiến của quân đội Mỹ và một số lực lượng đồng minh, rồi đến sự tham chiến của quân đội Trung Quốc. Mỹ và CHDCND Triều Tiên ký Hiệp định đình chiến năm 1953, chiến tranh kết thúc. Tuy nhiên, về mặt thực tế, Bán đảo Triều Tiên vẫn đang trong tình trạng chiến tranh, Hiệp định Hòa bình chưa được ký.
2. Đất nước, con người
2.1. Văn hóa - xã hội
- Hàn Quốc vốn là một đất nước chỉ có một dân tộc, một tiếng nói, tuy nhiên, ngày nay yếu tố này đang có nhiều thay đổi. Hàn Quốc đang chuyển sang xã hội “đa dân tộc, đa văn hóa”. Tính đến tháng 6/2013, có khoảng 1,5 triệu người nước ngoài sinh sống tại Hàn Quốc, chiếm 3% dân số Hàn Quốc1 .
- Do chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo, người Hàn Quốc rất coi trọng lễ nghĩa, trật tự trên dưới, nhất là trong các mối quan hệ đồng huyết thống (gia đình, họ hàng), đồng môn (cùng trường), đồng hương (cùng quê). Giới trẻ Hàn Quốc ngày nay có xu hướng ưa chuộng văn hóa Mỹ, Nhật. Mặc dù đội tuyển bóng đá Hàn Quốc đã từng đứng thứ 4 tại Worldcup 2002 nhưng bóng đá không được ưa chuộng bằng bóng chày, bóng rổ.
- Hàn Quốc có nền điện ảnh, âm nhạc và thời trang tương đối phát triển tại châu Á (Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Việt Nam). Văn hóa Hàn Quốc đang được du nhập mạnh vào nhiều nước châu Á với tên gọi “Han-lyu (làn sóng văn hóa Hàn)”. Đặc trưng của các món ăn Hàn Quốc là cay và mặn. Món ăn nổi tiếng là Kim-chi (các loại rau muối thường với ớt), thịt nướng (thịt ba chỉ, thịt bò), miến lạnh...Hàn Quốc đã tổ chức thành công Thế vận hội Mùa hè năm 1988 và Giải vô địch bóng đá thế giới World Cup năm 2002; giành được quyền đăng cai tổ chức Đại hội Thể thao Châu Á lần thứ 17 (9-10/2014) và Thế vận hội Mùa đông vào năm 2018.
2.2. Danh lam - thắng cảnh
Hàn Quốc có nhiều di tích được UNESCO công nhận là di sản thế giới như: Cung Chang-đớc (Cung Xướng Đức): hoàn thành năm 1405 và tháng 12/1997 được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới; thành Su-uân Hoa-sơng (Thuỷ Nguyên Hoa Thành): hoàn thành năm 1796 và tháng 12/1997 được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới; am Sớc-kyun (Thạch Quật Am) - Chùa Bul-kuc (Phật Quốc Tự): hoàn thành năm 774 và được UNESCO công nhận tháng 12/1995; Kho kinh tự chùa He-in (Hải Ấn Tự Tàng Kinh Bản Điện): hoàn thành vào thế kỷ 13 và được UNESCO công nhận tháng 12/1995; núi lửa ngừng hoạt động Han-la (Hán La) và Đỉnh Sơng-san-in-chun-bông (Thành Sơn Nhật Xuất Phong), Động nhũ đá tại đảo Chê-chu (Tế Châu) được UNESCO công nhận tháng 6/2007; khu Lăng mộ Hoàng gia Triều đại Chosun: được UNESCO công nhận năm 2009.
Xơ-un có một số địa danh đáng chú ý khác như Suối Châng-kiê (Thanh Khê Tuyền), tòa nhà 63 tầng, tháp truyền hình Nam-san, sông Hàn, Công viên giải trí Lotte World, chợ Nam-dae-mun (Cửa Nam - Nam Đại môn) và chợ Dong-dae-mun (Cửa Đông - Đông Đại môn). Ngoài ra còn có Công viên giải trí Everland và Làng văn hóa dân tộc tại Yông-in (cách Xơ-un khoảng 50 km), đảo du lịch Chê-chu (đây là tỉnh tự trị đặc biệt, du khách nước ngoài nhập cảnh không cần thị thực)…
III. Chính trị
1. Thể chế nhà nước
Hiến pháp Hàn Quốc ban hành lần đầu tiên ngày 17/7/1948 quy định Hàn Quốc theo chế độ Cộng hoà, tam quyền phân lập. Quốc hội và Tổng thống do dân bầu trực tiếp, Thủ tướng và Chánh án Toà án nhân dân do Tổng thống đề cử và Quốc hội thông qua (trong vòng 20 ngày).
Sau khi lập nước, các tướng lĩnh quân đội lần lượt nắm quyền lãnh đạo đất nước. Ngày 25/02/1993, lần đầu tiên nhân vật dân sự Kim Yêng Sam (Kim Young Sam) lên làm Tổng thống, bắt đầu thời kỳ chính phủ dân sự tại Hàn Quốc.
- Hành pháp: Tổng thống là người đứng đầu cơ quan hành pháp và chỉ được giữ một nhiệm kỳ 5 năm. Gần đây nhất, ngày 19/12/2012, ứng cử viên Đảng Sae-nu-ri (GNP cũ) Pắc Cưn Hê (Park Geun Hye), đã đắc cử Tổng thống lần thứ 18 với tỉ lệ 51,6%, chính thức nhậm chức ngày 25/2/2013 và trở thành nữ Tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc.
- Lập pháp: Quyền lập pháp thuộc về Quốc hội. Quốc hội Hàn Quốc theo chế độ một viện, gồm 300 ghế. Nghị sỹ Quốc hội Hàn Quốc được bầu theo nguyên tắc bỏ phiếu phổ thông, có nhiệm kỳ 04 năm. Tháng 4/2013, Hàn Quốc đã tiến hành bầu cử Quốc hội khóa 19. Đảng Saenuri (tiền thân là đảng Đại dân tộc GNP) đang là đảng cầm quyền. Đảng Liên minh Dân chủ Chính trị mới là đảng đối lập lớn nhất.
- Tư pháp: Hàn Quốc thực hiện chế độ tư pháp ba cấp gồm Toà án Tối cao, toà Thượng thẩm và các Toà án cấp Quận (cơ sở) ở các thành phố lớn. Toà án Tối cao xem xét và thông qua những quyết định cuối cùng, ra các kháng cáo đối với quyết định của các Toà Thượng thẩm. Quyết định của Toà án Tối cao là cuối cùng.
2. Các đảng phái chính trị
|
Tên Đảng |
Số ghế tại Quốc hội (5/2014) |
|
Đảng cầm quyền Sae-nu-ri (Đại dân tộc cũ) |
149 (51,74%) |
|
Liên minh Dân chủ Chính trị mới (Dân chủ và Liên minh Chính trị mới) |
127 (44,1%) |
|
Đảng Thống nhất tiến bộ |
6 |
|
Đảng Công lý |
5 |
|
Không đảng phái |
1 |
|
|
Tổng số: 288 |
IV. Kinh tế
Hàn Quốc vẫn là quốc gia có nền kinh tế lớn thứ 4 Châu Á và thứ 15 trên thế giới với GDP đạt 1.221,8 tỷ USD và thu nhập bình quân đầu người 2013: 24.329 USD (đứng thứ 33 thế giới)2. Kim ngạch thương mại của Hàn Quốc đứng thứ 8 thế giới, năm 2013 đạt trên 1.075,252 tỷ USD (xuất khẩu 559,723 tỷ USD và nhập khẩu 515,529 tỷ USD). Kim ngạch xuất khẩu ba tháng đầu năm 2014 tăng 2,2% (đạt 138,25 tỷ USD) và kim ngạch nhập khẩu tăng 2,1% (đạt 132,40 tỷ USD) so với cùng kỳ năm ngoái, duy trì đà thặng dư thương mại 26 tháng liên tiếp. Tính đến tháng 4/2014, dự trữ ngoại tệ của Hàn Quốc đạt 355,85 tỷ USD, mức cao nhất từ trước tới nay và đứng vị trí thứ 7 thế giới.
Quá trình phát triển kinh tế của Hàn Quốc được mệnh danh là “Kỳ tích sông Hàn”. Đây là quá trình phát triển kinh tế với tốc độ cao do Tổng thống Pác Chơng Hi khởi xướng, kéo dài từ thời hậu Chiến tranh Triều Tiên cho đến thời kì khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997. Để có được nền kinh tế phát triển được cả thế giới biết đến với cái tên “Kỳ tích sông Hàn”, Hàn Quốc đã áp dụng chiến lược phát triển kinh tế đối ngoại, sử dụng xuất khẩu làm động lực tăng trưởng và tận dụng tối đa các điều kiện thuận lợi của bối cảnh chính trị - an ninh thời kỳ Chiến tranh lạnh. Sau nỗ lực cải cách cơ cấu và thanh lọc các doanh nghiệp yếu kém, ngày nay phạm vi hoạt động của hầu hết các tập đoàn Hàn Quốc không chỉ bó hẹp ở Bán đảo Triều Tiên mà đã mở rộng ra toàn cầu với các tên tuổi như Samsung, Hyundai, LG.. được nhiều người biết đến. Cơ cấu nền kinh tế và lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp ngày càng đa dạng hơn, từ công nghiệp chế tạo, các lĩnh vực tập trung nhiều sức lao động... sang lĩnh vực dịch vụ, công nghệ cao; nhiều sản phẩm cạnh tranh trực tiếp với các nước phát triển như Nhật, Đức...
QUAN HỆ VIỆT NAM - HÀN QUỐC
I. Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao: 22/12/1992.
II. Những mốc lớn trong quá trình phát triển quan hệ
- Trong chiến tranh Việt Nam, Hàn Quốc đưa 30 vạn quân sang Việt Nam tham gia cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ.
- Từ 1975-1982, Việt Nam và Hàn Quốc bắt đầu có quan hệ buôn bán tư nhân qua trung gian; từ 1983 bắt đầu có quan hệ buôn bán trực tiếp và một số quan hệ phi Chính phủ.
- Ngày 20/4/1992, ký thoả thuận trao đổi Văn phòng liên lạc giữa hai nước.
- Ngày 22/12/1992, ký Tuyên bố chung thiết lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ. Cùng ngày, Hàn Quốc khai trương Đại sứ quán tại Hà Nội.
- Tháng 03/1993, Việt Nam khai trương Đại sứ quán tại Xơ-un.
- Tháng 11/1993, Hàn Quốc mở Tổng Lãnh sự quán tại tp. Hồ Chí Minh.
III. Tình hình quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc từ năm 1992 đến nay
1. Về chính trị, hai nước thường xuyên duy trì các chuyến thăm và gặp gỡ cấp cao hàng năm.
Năm 2001, trong chuyến thăm Hàn Quốc, Chủ tịch nước Trần Đức Lương và Tổng thống Kim Te Chung (Kim Dae Jung) đã tuyên bố thiết lập “Quan hệ đối tác toàn diện trong thế kỷ 21”.
Tháng 10/2009, trong chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Li Miêng Bác tháng 10/2009, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Tổng thống Li Miêng Bác đã tuyên bố nâng cấp quan hệ hai nước lên thành “Đối tác hợp tác chiến lược”.
Tháng 02/2006, Bộ Ngoại giao hai nước thiết lập cơ chế trao đổi chính sách thường niên cấp Thứ trưởng Ngoại giao. Tháng 10/2009, hai bên thỏa thuận nâng cơ chế trên thành Đối thoại chiến lược thường niên cấp Thứ trưởng Ngoại giao về ngoại giao-an ninh-quốc phòng. Tháng 5/2014, hai nước đã tiến hành họp Đối thoại chiến lược Việt - Hàn lần thứ 3 tại Hà Nội.
Tháng 11/2011, tại chuyến thăm Hàn Quốc của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Lãnh đạo hai bên nhất trí tuyên bố lấy năm 2012 là Năm Hữu nghị Việt Nam - Hàn Quốc nhân kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (22/12/1992 - 22/12/2012). Trong năm 2012, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã thăm chính thức Hàn Quốc và dự Hội nghị Thượng đỉnh An ninh Hạt nhân lần thứ 2 tại Xơ-un; Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh đã thăm chính thức Hàn Quốc và dự các hoạt động trong khuôn khổ “Tuần Việt Nam tại Hàn Quốc”. Các cơ quan, ban, ngành và địa phương hai nước đã phối hợp tổ chức nhiều hoạt động có ý nghĩa như: Đại nhạc hội Hàn - Việt, Diễn đàn “Vì tương lai Hàn - Việt”, Tuần lễ ẩm thực Hàn Quốc, Diễn đàn Hàn – ASEAN...
Năm 2013, lần đầu tiên Phó Chủ tịch nước ta tham dự Lễ nhậm chức của Tổng thống Hàn Quốc (25/2/2013); Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng (21-24/7/2013) và Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân (25-28/8/2013) đã thăm Hàn Quốc. Về phía Hàn Quốc, Chủ tịch Quốc hội Cang Chang Hi (13-16/01/2013) và Tổng thống Pắc Cưn Hê (7-11/9/2013) đã thăm Việt Nam3 .
2. Về kinh tế, Hàn Quốc là một trong những đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam.
Về đầu tư trực tiếp, tính đến tháng 4/2014, Hàn Quốc là nhà đầu tư thứ lớn thứ 2 (sau Nhật Bản) trong tổng số hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, với 3.687 dự án có hiệu lực và tổng vốn đầu tư đăng ký là 30,4 tỷ USD. Riêng 4 tháng đầu năm 2014, Hàn Quốc đã vượt Nhật Bản trở thành nhà đầu tư lớn nhất. Các Tập đoàn, công ty lớn của Hàn Quốc như Samsung, LG, Hyundai, Kumho Asiana... đều đã và đang đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam. Mặc dù tình hình kinh tế thế giới và khu vực không thuận, bản thân kinh tế Hàn Quốc cũng gặp nhiều khó khăn song các doanh nghiệp Hàn Quốc đều bày tỏ nguyện vọng tiếp tục làm ăn lâu dài tại Việt Nam, một số Tập đoàn lớn như Samsung, LG đang có kế hoạch tăng vốn đầu tư, mở rộng hoạt động kinh doanh tại Việt Nam.
Về thương mại, Hàn Quốc là đối tác thương mại lớn thứ 3 của ta và ta là thị trường xuất khẩu lớn thứ 9 của Hàn Quốc. Kim ngạch thương mại hai chiều năm 2013 đạt 27,5 tỷ USD, trong đó ta xuất khẩu 6,7 tỷ USD (tăng 19,9% so với năm 2012) và nhập khẩu 20,8 tỷ USD (tăng 34,1% so với năm 2012). Việt Nam nhập siêu từ Hàn Quốc4 năm 2012 là 9,95 tỷ USD (tăng 17,9% so với năm 2011) và năm 2013 là 14,1 tỷ USD (tăng 42,7% so với năm 2012). Ngày 6/8/2012, hai nước đã khởi động đàm phán FTA song phương, đến nay đã tiến hành 3 phiên đàm phán. Tuyên bố chung Việt - Hàn nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Pắc Cưn Hê (9/2013) đã đề ra mục tiêu nâng kim ngạch thương mại hai chiều lên 70 tỷ USD vào năm 2020 và phấn đấu ký FTA Việt - Hàn trong năm 2014.
Về ODA, Hàn Quốc là nước cung cấp ODA lớn thứ hai của Việt Nam (sau Nhật Bản) và Việt Nam là nước nhận viện trợ ODA lớn nhất của Hàn Quốc. Năm 2011, Hàn Quốc tuyên bố coi Việt Nam là trọng tâm và là 1 trong 26 “đối tác chiến lược về ODA”. ODA của Hàn Quốc triển khai theo 3 trọng tâm là tăng trưởng xanh, đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng cơ sở hạ tầng. Ta và Hàn Quốc đã ký kết Hiệp định hợp tác về viện trợ phát triển, trong đó Hàn Quốc cam kết cung cấp cho ta 1,2 tỷ USD vốn ưu đãi trong giai đoạn 2012-2015, tăng 200 triệu USD so với giai đoạn 2008-2011.
Về du lịch, Hàn Quốc là nước đứng thứ hai về nguồn cung cấp khách du lịch đến Việt Nam. Năm 2013 có 748,7 nghìn lượt khách Hàn Quốc đến Việt Nam, tăng 6,8% so với năm 2012. Khách Việt Nam thăm Hàn Quốc cũng tăng khá, đạt 100 nghìn lượt năm 2013. Hiện trung bình mỗi tuần có khoảng 100 chuyến bay trực tiếp giữa Việt Nam và Hàn Quốc.
3. Về văn hoá - giáo dục, hai nước đã ký Hiệp định văn hoá (8/1994), Bản ghi nhớ về hợp tác văn hóa nghệ thuật, thể thao và du lịch (10/2008) cùng nhiều thoả thuận hợp tác giao lưu thanh niên và giáo dục khác. Năm 2006, Hàn Quốc đã thành lập Trung tâm văn hóa Hàn Quốc tại Hà Nội. Bộ Giáo dục Việt Nam đã chọn Hàn Quốc làm đối tác chiến lược thông tin giáo dục - đào tạo. Hiện có trên 5.000 du học sinh Việt Nam đang học tập tại Hàn Quốc, đa phần là học đại học và cao học.
4. Về kiều dân, hiện mỗi nước có khoảng 123 nghìn công dân sinh sống tại nước bên kia. Ta có khoảng 63 nghìn lao động, 50 nghìn phụ nữ kết hôn với nam giới Hàn Quốc (đứng thứ hai sau Trung Quốc) và 5000 du học sinh.
Hàn Quốc là thị trường xuất khẩu lao động lớn thứ hai của ta và ta là nước xuất khẩu lao động lớn thứ 2 sang Hàn Quốc. Trong năm 2012, ta có hơn 9.800 lao động xuất cảnh sang Hàn Quốc. Tới nay, ta đã đưa 63.000 lao động sang Hàn Quốc theo chương trình Cấp phép tuyển dụng (EPS). Ngày 31/12/2013, hai bên đã ký “Bản ghi nhớ đặc biệt về việc phái cử lao động Việt Nam sang làm việc tại Hàn Quốc”5. Theo đó khoảng 16.000 lao động Việt Nam có đủ điều kiện tuyển dụng sẽ được sang làm việc tại Hàn Quốc trong năm 2014.
5. Viện trợ nhân đạo của Hàn Quốc cho Việt Nam
Năm 2004, Chính phủ Hàn Quốc đã viện trợ 30 ngàn USD giúp ta khắc phục bệnh cúm gà. Chính phủ Hàn Quốc đã nhiều lần viện trợ giúp ta khắc phục hậu quả lũ lụt, cụ thể là năm 1995: 30 ngàn USD, năm 1996: 100 ngàn USD, năm 1999: 40 ngàn USD, năm 2000: 30 ngàn USD, năm 2003: 10 ngàn USD, năm 2005: 20 ngàn USD, năm 2006: 50 ngàn USD, năm 2009: 100 ngàn USD, năm 2010: 100 ngàn USD, năm 2011: 200 ngàn USD.
6. Các tổ chức hữu nghị
Hội Hữu nghị Việt Nam - Hàn Quốc (thành lập 9/1994, hiện do Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Vũ Tiến Lộc làm Chủ tịch), Hội Giao lưu Hữu nghị Hàn Quốc - Việt Nam (thành lập năm 2001, hiện ông Chuê Yêng Chu, Chủ tịch Công ty may Panko Hàn làm Chủ tịch).
Tháng 5/1993, Hàn Quốc thành lập Hội Nghị sĩ hữu nghị Hàn Quốc - Việt Nam, hiện do ông Li Biêng Sớc, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc thổ Hải dương Quốc hội làm Chủ tịch. Tháng 5/1995, Việt Nam thành lập Hội Nghị sĩ hữu nghị Việt Nam - Hàn Quốc do Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Phan Xuân Dũng làm Chủ tịch.
7. Hợp tác địa phương
Hiện có khoảng gần 40 địa phương hai nước thiết lập quan hệ hợp tác, trong đó có nhiều tỉnh, thành phố lớn như Thủ đô Hà Nội – Thủ đô Seoul, Tp. Hồ Chí Minh – Tp. Busan, Tp. Đà Nẵng – Tp. Deagu, Tp. Hải Phòng – Tp. Incheon, tỉnh Vĩnh Phúc – tỉnh Jungjeongbuk, tỉnh Kiên Giang – tỉnh Jeju, Tp. Hải Dương – Tp.UiCheongbu (tỉnh Gyeonggi), tỉnh Quảng Nam – Tp. Osan (Tỉnh Gyeonggi), tỉnh Đồng Nai – tỉnh Gyeongsangnam, tỉnh Khánh Hòa- Tp. Ulsan, tỉnh Thái Nguyên – tỉnh Gyeongsangbuk, tỉnh Phú Thọ - Tp. Hwaseong (tỉnh Gyeonggi)…v.v.
8. Dòng họ Lý của Việt Nam tại Hàn Quốc
Tại Hàn Quốc hiện có hai dòng họ Lý của Việt Nam đang sinh sống là dòng họ Lý Tinh Thiện và dòng họ Lý Hoa Sơn.
___________________________________________________________________
1Theo thống kê tháng 7/2013 của Cục quản lý xuất nhập cảnh Hàn Quốc, đông nhất là người Trung Quốc (chiếm 50% trên tổng số người nước ngoài tại Hàn Quốc), tiếp sau đó là Mỹ (9,3%), Việt Nam (8,1%).
2Các chỉ số kinh tế năm 2013 của IMF.
3Đây là lần đầu tiên một Tổng thống Hàn Quốc chọn Việt Nam là nước thứ 3 (sau Mỹ, Trung Quốc) và là nước đẩu tiên ở khu vực Đông Nam Á là điểm đến thăm chính thức sau khi nhậm chức.
4Phía Hàn Quốc cho rằng đây là “nhập siêu tích cực”, chủ yếu do các doanh nghiệp Hàn Quốc mở rộng đầu tư vào Việt Nam nên nhập khẩu nhiều trang thiết bị, nguyên phụ liệu từ Hàn Quốc nhưng thành phẩm lại không xuất khẩu trở lại Hàn Quốc mà xuất đi nước thứ ba.
5Trước đó “Bản ghi nhớ về việc phái của lao động Việt Nam sang làm việc tại Hàn Quốc đã bị đình lại từ tháng 8/2012.
(Cập nhật đến tháng 6/2014)

