CỘNG HÒA HY LẠP
------
I. KHÁI QUÁT CHUNG:
Tên nước Cộng hoà Hy Lạp
Chế độ chính trị Cộng hòa
Thủ đô A-ten (Athenes)
Vị trí địa lý là nước ở Đông-Nam Âu, trên bán đảo Ban-căng, Bắc giáp An-ba-ni, Ma-xê-đôn-nia, Bun-ga-ri, Nam giáp biển Địa Trung Hải, Đông và Đông Bắc giáp biển E-gie và Thổ Nhĩ Kỳ, Tây giáp biển I-ôn
Diện tích 131.944 km2
Dân số 11.306.183 người (dự kiến năm 2010), gồm 95% là người Hy Lạp, còn lại là các dân tộc khác
Khí hậu Hy Lạp có khí hậu Địa Trung Hải, nhiệt độ trung bình là 17,40C
Đơn vị tiền tệ euro
GDP 333 tỉ USD (2009)
GDP/người 29.689 USD (2009)
Tôn giáo Đa số theo Đạo Chính thống (98%) còn lại theo Đạo Thiên chúa và Đạo Hồi
Ngôn ngữ Tiếng Hy Lạp
Quốc khánh 25/3/1821 (ngày độc lập)
Tổng thống Ka-rô-lốt Pa-pao-li-át (Karolos Papoulias)
Thủ tướng Gioóc-giơ Pa-pan-đờ-rê-u (George Papandreou)
Ngoại trưởng Gioóc-giơ Pa-pan-đờ-rê-u (George Papandreou)
Chủ tịch Quốc hội Phi-líp-pốt Phét-san-ni-kốt (Filippos Petsalnikos)
II. LỊCH SỬ, ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI:
Hy Lạp cổ đại có nền văn hoá phát triển rực rỡ, là kho tàng thần thoại, là xứ sở của nhiều nhà sử học, triết học, kiến trúc, thiên văn, nhà thơ ... là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại.
Hy Lạp là một nước sớm hình thành quốc gia dân tộc. Cuối thế kỷ thứ IV trước công nguyên, dưới thời Alếc-xan-đơ-rơ de Ma-xê-đôn, Hy Lạp là một đế quốc hùng mạnh, đất nước rộng lớn kéo dài từ biển E-giê đến vùng Cáp-ca-dơ Trung á.
Từ năm 146 trước công nguyên đến đầu thế kỷ thứ 19, Hy Lạp lần lượt bị các đế quốc La Mã, Bi-zăng-tin, Ô-tô-man thống trị. Nhân dân Hy Lạp nhiều lần nổi dậy chống xâm lược, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của nông dân vùng Pa-lô-pôn-nét-si (Nam Hy Lạp) nổ ra ngày 25/9/1821. Sau đó nhờ thắng lợi của Nga trong chiến tranh Nga - Thổ (1827 - 1829), Hy Lạp được công nhận độc lập năm 1830 dưới sự bảo trợ của Anh, Nga, Pháp. Ngày 25/3/1821 được lấy làm ngày Quốc khánh của Hy Lạp.
Tháng 4/1924, Hy Lạp bãi bỏ chế độ quân chủ, thiết lập chế độ Cộng hoà. Năm 1936, chế độ Cộng hoà bị thay thế bằng chế độ độc tài của tướng Mê-ta-xát.
Từ 1946 - 1949 tại Hy Lạp xảy ra nội chiến giữa một bên là lực lượng Hoàng gia thân Anh và một bên là những người cộng sản và kháng chiến cũ. Kết cục lực lượng của những người cộng sản và kháng chiến cũ thất bại. Từ 1950 - 1967 là thời kỳ khủng hoảng chính trị triền miên và gay gắt trong nội bộ chính quyền tư sản. Ngày 21/4/1967, phái quân sự làm đảo chính, lập chế độ phát xít, mở ra thời kỳ đàn áp gay gắt phong trào dân sinh, dân chủ, cấm mọi đảng phái chính trị hoạt động.
Ngày 24/7/1974 Côn-xtan-tin Ka-ra-ma-lit (lưu vong ở Pháp) trở về Hy Lạp thành lập Chính phủ liên hiệp lâm thời. Tháng 12/1974 tổ chức trưng cầu ý dân, lập lại chính thể Cộng hoà. Từ đó đến nay 2 đảng chính : Đảng phong trào xã hội Pa-sốc và Đảng Dân chủ mới thay nhau cầm quyền.
III. CHÍNH TRỊ:
1/ Hy Lạp theo chế độ Cộng hoà Đại nghị, Quốc hội có một Viện gồm 300 ghế.
2/ Tháng 10/2009, Đảng cầm quyền là Đảng Phong trào Xã hội (PASOK) do Thủ tướng George Papandreou đứng đầu: 160/300 ghế (giành được 43% số phiếu trong bầu cử).
Chính phủ mới do ông George Papandreou làm Thủ tướng gồm 15 Bộ trưởng và 20 Thứ trưởng, có 4 Bộ mới là Môi trường, Năng lượng, Biến đổi khí hậu và Cơ sở hạ tầng. Ngày 7/9/2010, Chính phủ Hy Lạp đã cải tổ nội các. Thủ tướng George Papandreou thôi kiêm giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao và bổ nhiệm ông Dimitris Droutsas giữ chức vụ này.
- Đảng đối lập: Đảng Dân chủ mới (New Democracy) do ông Antonis Samaras đứng đầu: 91/300 ghế.
- Đảng Cộng sản Hy Lạp hoạt động hợp pháp trong khuôn khổ nhà nước pháp quyền, có 21 ghế trong Quốc hội và có ảnh hưởng nhất định trong các tầng lớp lao động ở Hy Lạp.
IV. KINH TẾ:
1. Tình hình chung: Hy Lạp có nền kinh tế công-nông nghiệp khá phát triển, là sự pha trộn giữa nền kinh tế tư bản và kinh tế nhà nước. Có nhiều khoáng sản như: Bốc-xít, quặng sắt, ni-ken.
Thế mạnh kinh tế Hy Lạp là vận tải đường biển và du lịch: có đội thương thuyền đứng thứ 3 thế giới, kiểm soát 25% kim ngạch vận tải biển thế giới; có hệ thống đường xá, khách sạn, hải cảng, sân bay hiện đại. Hàng năm Hy Lạp thu hút khoảng 17 triệu lượt khách du lịch. Công nghiệp du lịch đóng 15% GDP quốc dân. Hy Lạp là nước nhận viện trợ lớn nhất của EU, chiếm khoảng 3,3% tổng GDP.
Từ 19/6/2000, nhờ áp dụng các biện pháp kinh tế tài chính có hiệu quả, Hy Lạp đã đạt các tiêu chí và được gia nhập khu vực đồng euro. Hiện nay Hy Lạp là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất ở EU (giai đoạn 2001-2007 tăng trưởng trung bình 4%/năm). Năm 2008 tăng trưởng của Hy Lạp chỉ đạt 2,8%, đây là con số thấp hơn các năm trước nhưng vẫn cao hơn tăng trưởng trung bình của các nước thuộc khối EU. Tuy nhiên, năm 2009, Hy Lạp lún sâu vào khủng hoảng, gặp nhiều thách thức lớn như: tăng nợ công (113% GDP) và thâm hụt ngân sách ở mức kỷ lục (13,6%), lạm phát, thất nghiệp (tỷ lệ thất nghiệp vào loại cao nhất EU 15%), 20% dân số sống dưới ngưỡng nghèo khổ. Quốc hội và Chính phủ mới buộc phải đưa ra các dự luật tài chính mới (mục tiêu giảm thâm hụt ngân sách nhà nước xuống còn 8,7% GDP năm 2010), các biện pháp cơ cấu lại nền kinh tế bao gồm cả việc tư nhân hóa một số công ty nhà nước, giảm lương và giảm quan liêu. Ngày 2/5/2010, EU và IFM thông qua thoả thuận cho Hy Lạp vay 110 tỉ Euro (146 tỉ USD) với lãi suất vay 5% trong vòng 3 năm để trang trải nợ. Để được vay, Hy Lạp phải cam kết cắt giảm thâm hụt ngân sách xuống còn 3% GDP vào năm 2014.
2. Các chỉ số chung:
- GDP: 333 tỉ USD (2009).
- Tăng trưởng GDP 1999: 3,5%; 2000: 3,7%; 2001 ;4,1%; 2002: 4% ; 2003: 4% ; 2004: 4,7% ; 2006 : 4,2% ; 2007 : 3,7% ; 2008 : 2,8%.
- Thu nhập bình quân đầu người: 29.689 USD (2009).
- Lạm phát: 1998: 4,6%; 2000: 3%, 2002: 3,5%; 2003: 2,7% ; 2006 :3,3% ; 2007 : 2,6% ; 2008 : 4,4%.
- Thất nghiệp: 1999: 10,8%; 2003: 9,8%, 2006 : 9,2% ; 2007 : 8,4% ; 2008 : 8%, 2009 : 15%.
- Xuất khẩu: 27,4 tỉ USD (2008) gồm may mặc, bông sợi, thực phẩm, sản phẩm dầu lửa, thuốc lá, rau quả. Thị trường: Đức 11,6%; I-ta-li-a 10,8%; Sip 6,5% ; Bungari: 6,5%; Mỹ: 4,2%.
- Nhập khẩu: 82,8 tỉ USD (2008): máy công nghiệp, hóa chất, dầu lửa. Đối tác nhập khẩu: Đức 12,9%, I-ta-li-a 11,7%, Nga 5,6% ; Pháp 5,6 %.
Hy Lạp là thành viên chính thức của NATO và EU. Ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Hy Lạp là châu Âu, Mỹ, đồng thời tranh thủ các nước Ban Căng. Mỹ đánh giá cao tầm quan trọng của Hy Lạp trong sườn phía Nam NATO.
Với các nước láng giềng, có một số vấn đề tồn tại do lịch sử để lại (lãnh thổ, dân tộc) nên quan hệ của Hy Lạp với một số nước có lúc trở nên căng thẳng như với Thổ Nhĩ Kỳ (về vùng biển E-giê và vấn đề Síp), với Anbani (về vấn đề kiều dân Hy Lạp) và Ma-xê-đô-ni-a (đất đai), tuy nhiên thời gian gần đây quan hệ Hy Lạp - Thổ Nhĩ Kỳ đã được cải thiện tích cực.
Đối với các khu vực ngoài châu Âu, Hy Lạp quan hệ có chọn lọc. Hy Lạp có
quan hệ tốt cả về chính trị lẫn kinh tế với các nước Trung Đông và Bắc Phi, quan hệ với châu Á và châu Mỹ La tinh chủ yếu mới ở mức xã giao, quan hệ kinh tế chưa phát triển.
QUAN HỆ VIỆT NAM – HY LẠP
------
I/ QUAN HỆ CHÍNH TRỊ:
Hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 15/4/1975. Nhân dân Hy Lạp và Đảng Cộng sản Hy Lạp có thiện cảm đối với nhân dân Việt Nam, ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta. Đảng Cộng sản Hy Lạp nhiều lần ra tuyên bố lên án đế quốc Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam, nhân dân Hy Lạp tổ chức các cuộc mít tinh, biểu tình ủng hộ Việt Nam.
Tháng 3/2007, Hy Lạp mở sứ quán thường trú tại Hà Nội.
Hiện nay Đại sứ Việt Nam tại Italia kiêm nhiệm Hy Lạp. Việt Nam đang hoàn tất thủ tục nội bộ để mở Đại sứ quán tại Athens trong năm 2010.
Nhìn chung, quan hệ hai nước đã có những bước phát triển tích cực. Chính phủ Hy Lạp đánh giá cao công cuộc đổi mới của Việt Nam và bày tỏ mong muốn mở rộng quan hệ nhiều mặt với ta nhất là về kinh tế - thương mại và đầu tư. Tuy nhiên, trong thời gian qua các quan hệ này vẫn chưa phát triển so với tiềm năng và mong muốn của hai nước.
Đoàn ra:
+ 5/1996 Thứ trưởng tài chính Vũ Mộng Giao thăm và làm việc
+ 11/1996 Thứ trưởng Bộ Thương mại Nguyễn Xuân Quang
+ 2/1998 Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm
+ 2/2005 Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Trung Thành
+ 6/2008 Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết thăm cấp Nhà nước
+ 6/2009 Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm
Đoàn vào:
+ 8/1997 Tổng thư ký Bộ Ngoại giao Hy Lạp
+ 10/2004 Bộ trưởng Ngoại giao Petro Moliviatis dự HNCC ASEM 5
+ 5/2007 Thủ tướng Cốt- xtát Ca-ra-man-lít (Kostas Karamanlis) và phu nhân thăm chính thức
+ 10/2008 Tổng thống Ka-rô-lốt Pa-pao-li-át thăm chính thức
II/ QUAN HỆ KINH TẾ, THƯƠNG MẠI, ĐẦU TƯ, GIÁO DỤC ĐÀO TẠO:
Quan hệ kinh tế Việt Nam-Hy Lạp còn khiêm tốn nhưng có nhiều tiềm năng. Kim ngạch thương mại Việt Nam-Hy Lạp trong 5 năm 2001-2006 đạt hơn 200 triệu USD và tăng nhanh trong thời gian qua. Kim ngạch hai chiều trong 11 tháng đầu năm 2009 đã đạt 72 triệu USD. Tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Hy Lạp được tổ chức lần đầu tiên nhân chuyến thăm Hy Lạp của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, hai bên đã ký biên bản ghi nhớ đóng mới 8 tàu biển trị giá 600 triệu USD.
Hy Lạp chưa có dự án đầu tư nào ở Việt Nam. Hy Lạp chưa cung cấp ODA cho Việt Nam, nhưng đã có một số hoạt động hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào lũ lụt, người khuyết tật, nạn nhân chất độc màu da cam (với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội)...
Hợp tác giáo dục - đào tạo: Hy Lạp đã bắt đầu cấp học bổng cho ta (05 học bổng học tiếng Hy Lạp).
III/ HIỆP ĐỊNH ĐÃ KÝ:
- Hiệp định khung về hợp tác kinh tế, công nghiệp và công nghệ giữa hai nước (1996).
- Hiệp định khung về Hợp tác du lịch (2007).
- Hiệp định về hợp tác Văn hoá (2008).
- Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, Biên bản ghi nhớ về hợp tác giữa Bộ Ngoại giao hai nước; Biên bản ghi nhớ về Hợp tác trong lĩnh vực năng lượng giữa Bộ Công Thương Việt Nam và Bộ Phát triển Hy Lạp (2008).
- Hiệp định Vận tải hàng không (2009).
Tháng 12/2010




