I. THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ UNFPA
Sự ra đời và cơ cấu tổ chức
UNFPA là một tổ chức phát triển thuộc hệ thống Liên hợp quốc (LHQ), có mục tiêu thúc đẩy sự tiếp cận đầy đủ của mọi người dân đến các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản (bao gồm kế hoạch hóa gia đình), thực hiện các quyền về sức khỏe sinh sản, giảm tỉ lệ tử vong mẹ. Trọng tâm hoạt động của UNFPA là thúc đẩy việc thực hiện Chương trình nghị sự của Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD), các Mục tiêu Thiên niên kỷ (MDG), trước đây và các Mục tiêu phát triển bền vững hiện nay về tăng cường sức khỏe sinh sản, dân số và phát triển.
UNFPA bắt đầu các hoạt động từ năm 1969 và lúc đầu được đặt dưới sự quản lý của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP). Năm 1971, Đại hội đồng LHQ giao cho UNFPA đóng vai trò chính trong việc thúc đẩy các hoạt động về dân số. Năm 1972, do sự phát triển về nguồn vốn và phạm vi hoạt động, UNFPA được đặt dưới sự điều hành trực tiếp của Đại hội đồng LHQ. Các nước thành viên của LHQ đều được coi là thành viên của UNFPA. Tổng ngân sách hoạt động hàng năm trung bình gần 1 tỷ USD.
Bà Natalia Kanem, quốc tịch Panama, Giám đốc chấp hành UNFPA, chính thức nhậm chức từ tháng 10/2017.
Cơ quan điều hành UNFPA là Hội đồng chấp hành, gồm 36 thành viên. Các thành viên Hội đồng chấp hành UNFPA cũng đồng thời là thành viên Hội đồng chấp hành UNDP. Hội đồng chấp hành UNDP-UNFPA chịu sự chỉ đạo về mặt chính sách của Đại hội đồng LHQ và Hội đồng Kinh tế-Xã hội LHQ (ECOSOC).
2. Tôn chỉ mục đích
- Trợ giúp các nước đang phát triển thông qua việc cung cấp các dịch vụ có chất lượng trong sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình trên cơ sở sự lựa chọn của cá nhân. Hỗ trợ việc xây dựng các chính sách dân số phục vụ phát triển bền vững.
- Thúc đẩy việc thực hiện các nội dung của Chương trình hành động của Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) năm 1994 và được điều chỉnh/bổ sung tại Khóa họp đặc biệt của Đại hội đồng LHQ năm 1999 (ICPD+5).
- Thúc đẩy sự hợp tác và điều phối giữa các tổ chức LHQ, các tổ chức song phương, các chính phủ, các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và khu vực tư nhân trong việc giải quyết các vấn đề dân số và phát triển, sức khỏe sinh sản, bình đẳng giới và nâng cao địa vị phụ nữ.
3. Các hình thức hỗ trợ của UNFPA
Hỗ trợ của UNFPA mang tính chất hỗ trợ kỹ thuật thông qua các chương trình, dự án viện trợ được xây dựng với sự phối hợp của Chính phủ nước nhận viện trợ, tập trung vào ba lĩnh vực, chương trình chính sau:
- Sức khỏe sinh sản: Hỗ trợ việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS), bao gồm việc đưa ra nhiều lựa chọn về các biện pháp kế hoạch hóa gia đình và cung cấp thông tin.
- Chiến lược Dân số và Phát triển: Giúp các nước xây dựng, thực hiện và đánh giá các chính sách dân số tổng thể như là một phần trọng tâm của chiến lược phát triển bền vững. Sự hỗ trợ này bao gồm việc thu thập, phân tích số liệu và nghiên cứu về dân số.
- Thông tin-giáo dục-truyền thông: UNFPA thực hiện các hoạt động thông tin-giáo dục-truyền thông về các mục tiêu của Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) năm 1994 và Khóa họp đặc biệt của Đại hội đồng LHQ năm 1999 (ICPD+5) bao gồm sức khỏe sinh sản và các quyền về sức khỏe sinh sản, nâng cao vị thế của phụ nữ, giảm tử vong mẹ và trẻ sơ sinh, tăng cường năng lực quốc gia về xây dựng và thực hiện các chiến lược về dân số và phát triển, nâng cao nhận thức và tăng các nguồn lực về dân số và phát triển.
4. Kế hoạch chiến lược của UNFPA giai đoạn 2018-2021:
Kế hoạch chiến lược cho giai đoạn này tái khẳng định các định hướng chiến lược hiện tại của UNFPA, mục tiêu của họ là tiếp cận sức khỏe được phổ cập và quyền sinh sản và tình dục liên quan tới phụ nữ, thanh thiếu niên và những người trẻ tuổi, thực hiện chiến lược của UNFPA và Nghị quyết 70/1 của Đại hội đồng về Chương trình nghị sự về Phát triển bền vững từ nay đến năm 2030, Chương trình chiến lược này là một trong ba Chương trình chiến lược của UNFPA từ này đến năm 2030.
Những lĩnh vực hợp tác chính trong chiến lược giai đoạn 2018-2021 gồm: (i) xóa đói giảm nghèo, (ii) đối phó với biến đổi khí hậu, (iii) cải thiện sức khỏe thanh niên và sức khỏe bà mẹ, (iv) đạt được bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ và trẻ em, (v) bảo đảm bảo tính sẵn có và việc sử dụng dữ liệu cho phát triển bền vững, (vi) nhấn mạnh phát triển là mục tiêu trung tâm của chính nó, và tại các quốc gia đang trong xung đột và hậu xung đột, công việc phát triển của các thực thể trong hệ thông hệ thống phát triển Liên hợp quốc có thể góp phần xây dựng hòa bình và duy trì hòa bình theo kế hoạch, nhu cầu và ưu tiên của quốc gia và tôn trọng sở hữu quốc gia.
Những lĩnh vực có lợi thế hợp tác này có tác động tích cực đối với Mục tiêu phát triển bền vững. Việc tập trung vào các lĩnh vực trên cũng là cơ sở cho sự hợp tác chặt chẽ hơn với các thực thể khác của Liên hợp quốc và với các đối tác khác.
II. QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA VIỆT NAM VÀ UNFPA
1. Các giai đoạn hợp tác với UNFPA
UNFPA bắt đầu các hoạt động tại Việt Nam từ năm 1977 và chính thức hỗ trợ Việt Nam từ năm 1978. Đến nay, hợp tác giữa Việt Nam và UNFPA tiếp tục phát triển thông qua các Chương trình quốc gia, được xây dựng trên cơ sở các ưu tiên của Chính phủ trong lĩnh vực dân số-kế hoạch hóa gia đình và các Chiến lược về Dân số và Sức khỏe sinh sản của Việt Nam giai đoạn 2001-2010 và giai đoạn 2011-2020. Thông qua các Chương trình quốc gia hợp tác giữa Việt Nam và UNFPA từ năm 1978 đến năm 2010, UNFPA đã tài trợ cho Việt Nam khoảng 115 triệu USD.
Nội dung của các Chương trình quốc gia hợp tác với UNFPA cũng có sự thay đổi theo từng thời kỳ, nhất là sau Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển Cai-rô năm 1994. Nếu các Chương trình quốc gia trước thời điểm đó tập trung chủ yếu vào lĩnh vực kế hoạch hóa gia đình thì từ Chương trình quốc gia V (1997-2000) đến nay, chất lượng dân số và vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản trở thành những nội dung chính của các Chương trình quốc gia.
Giai đoạn 2012-2016, trong khuôn khổ sáng kiến Một Liên hợp quốc được khởi động từ năm 2006 và Kế hoạch chung hợp tác giữa Việt Nam và Liên hợp quốc, UNFPA đã phối hợp với Chương trình Phát triển LHQ (UNDP), Quỹ Nhi đồng LHQ (UNICEF) và Chính phủ Việt Nam thống nhất xây dựng Chương trình Quốc gia chung (CCPD) cho giai đoạn 2012-2016 trên cơ sở các ưu tiên của Chính phủ và lợi thế so sánh của các tổ chức LHQ nhằm hỗ trợ thực hiện các mục tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam giai đoạn 2011-2015 như kiểm soát tỷ lệ tăng dân số, nâng cao chất lượng dân số, lao động, đảm bảo bình đẳng giới, cải thiện đời sống nhiều mặt của nhân dân… Trong Chương trình này, UNFPA tiếp tục hỗ trợ Việt Nam củng cố các thành tựu đã đạt được trong lĩnh vực dân số, kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản, bình đẳng giới, giải quyết vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh, chăm sóc người cao tuổi… thông qua các dự án như: “Hỗ trợ năng lực thực hiện Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2011-2020” do Bộ Nội vụ thực hiện; “Hỗ trợ Bộ Y tế thực hiện Chiến lược quốc gia về Dân số và SKSS giai đoạn 2011-2020” do Bộ Y tế thực hiện;“Phòng, chống bạo lực gia đình, kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh và chăm sóc người cao tuổi tại tỉnh Hải Dương” do UBND tỉnh Hải Dương thực hiện…
Tổng ngân sách do UNFPA tài trợ cho Việt Nam trong giai đoạn 2012-2016 là khoảng 33 triệu USD, trong đó 22,5 triệu USD là từ nguồn ngân sách thường xuyên và 10,6 triệu USD là từ nguồn vận động.
Giai đoạn 2017-2021, UNFPA tại Việt Nam bắt đầu phối hợp với các cơ quan Chính phủ thực hiện Chương trình Quốc gia hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam và Quỹ Dân số LHQ (UNFPA) lần thứ 9 giai đoạn 2017-2021 (CPD9) với 3 lĩnh vực trọng tâm là: (i) phổ cập tiếp cận sức khỏe tình dục và sinh sản, đặc biệt cho thanh niên; (ii) bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ; (iii) tăng cường năng lực xây dựng và phân tích dữ liệu, và vận động chính sách dựa trên bằng chứng về biến động dân số. Tổng nguồn vốn cam kết viện trợ cho giai đoạn 2017-2021 là khoảng 23 triệu USD, trong đó vốn thường xuyên (vốn đảm bảo) khoảng hơn 16 triệu USD.
Các dự án triển khai trong giai đoạn 2017-2021:
Dự án hỗ trợ Bộ Y tế: hỗ trợ giải quyết bất bình đẳng về sức khỏe sinh sản và tình dục, kế hoạch hóa gia đình và các vấn đề dân số mới nổi ở Việt Nam. Ngân sách dự kiến 5.528.648 USD trong 5 năm (4.348.648 USD từ ngân sách thường xuyên, 1.180.000 USD ngân sách huy động).
Dự án hỗ trợ Tổng Cục Thống kê: hỗ trợ các cơ quan Chính phủ cung cấp và sử dụng các dữ liệu có chất lượng về dân số và phát triển nhằm xây dựng và quản lý các chính sách, chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và thực hiện các SDGs. Ngân sách dự kiến trong 5 năm: 5.145.430 USD (4.340.290 USD ngân sách thường xuyên và 805.140 USD ngân sách huy động).
Dự án hỗ trợ Bộ Nội vụ: hỗ trợ Chính phủ xây dựng và quản lý việc thực hiện các chính sách về phát triển thanh niên. Ngân sách dự kiến trong 5 năm: 5.117.343 USD (2.749.913 ngân sách thường xuyên và 2.367.430 USD huy động). UNFPA Việt Nam đang phối hợp với một số cơ quan LHQ khác tại Việt Nam huy động nguồn vốn phục vụ SDGs của LHQ liên quan đến thanh niên. Nếu được, sẽ huy động được khoảng 1 triệu USD cho dự án này.
Dự án hỗ trợ Bộ LĐTBXH: hỗ trợ Chính phủ Việt Nam trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách và chương trình về bạo lực giới liên quan đến mại dâm. Ngân sách dự kiến trong 5 năm: 3.757.083 USD (2.320.798 USD ngân sách thường xuyên và 1.436.285 USD ngân sách huy động. Đến nay, đã huy động được khoảng hơn 600.000 USD từ Chính phủ Úc và các chương trình toàn cầu và khu vực của UNFPA).
Dự án hỗ trợ Trung tâm Sáng kiến về Sức khỏe và Dân số thuộc Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA): hỗ trợ các hoạt động ngăn ngừa và đáp ứng bạo lực giới và bạo lực gia đình tại Việt Nam. Ngân sách dự kiến trong 4 năm: 2.251.498 USD (1.240.353 USD ngân sách thường xuyên và 1.011.145 USD ngân sách huy động).
2. Hợp tác giữa Việt Nam-UNFPA hiện nay
UNFPA đã triển khai rất thành công mô hình nâng cao năng lực tại địa phương, làm thay đổi nhận thức, hành vi của người dân, đặc biệt là ở những vùng sâu, vùng xa, nơi tiếp cận thông tin còn hạn chế; tăng cường công tác đào tạo, tư vấn về y tế cho tuyến cơ sở để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, giảm thiểu rủi ro.
Với nỗ lực của Chính phủ và sự giúp đỡ có hiệu quả của UNFPA cùng các nhà tài trợ khác, hiện nay Việt Nam đã và đang giải quyết các vấn đề liên quan đến dân số phát triển, chăm sóc sức khỏe sinh sản, sực khỏe tình dục, kế hoạch hóa gia đình và giới từ đó dần thực hiện các cam kết với cộng đồng quốc tế duy trì các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, hướng tới việc thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững và các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Ngoài ra trong lĩnh vực bình đẳng giới, già hóa dân số và người cao tuổi Chính phủ cùng UNFPA đang tiếp tục xây dựng chính sách, triển khai các hoạt động truyền thông và thiết kế các chương trình góp phần thúc đẩy bình đẳng giới, chống bạo lực với phụ nữ và trẻ em; triển khai các hoạt động nâng cao nhận thức, chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về chính sách thích ứng với già hóa dân số tại Việt Nam; hỗ trợ đổi mới chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi hướng tới mở rộng độ bao phủ của an sinh xã hội, bao gồm lương hưu và trợ cấp xã hội cho người cao tuổi; xây dựng báo cáo độc lập 10 năm thi hành Luật bình đẳng giới và báo cáo 5 năm thực hiện Luật người cao tuổi nhằm cung cấp những bằng chứng khách quan, khoa học cho việc đề xuất sửa Luật trong thời gian tới.
(Tháng 08/2020)

