I. Khái quát chung:
1. Thông tin chung:
- Tên nước: Cộng hòa Namibia (Republic of Namibia).
- Thủ đô: Winhoek.
- Quốc khánh: 21/3/1990 (ngày tuyên bố độc lập).
- Vị trí địa lý: Namibia là một quốc gia giáp Biển Đại Tây Dương, nằm ở phía Tây Nam châu Phi, có đường biên giới giáp 3 quốc gia, gồm phía Bắc giáp Angola, phía Nam giáp Nam Phi, phía Đông giáp Botswana.
- Diện tích: 826.000 km2
- Khí hậu: phần lớn là khí hậu sa mạc cận nhiệt đới, ít mưa, độ ẩm thấp; chia thành mùa khô và mùa mưa.
- Dân số: 3,11 triệu người (2026, theo IMF).
- Dân tộc: 87% người da màu; 6% người da trắng và 7% con lai.
- Tôn giáo: 80% dân số theo đạo Thiên chúa, 20% theo các tôn giáo bản địa.
- Ngôn ngữ chính thức: tiếng Anh, tiếng Afrikana, tiếng Đức và tiếng thổ ngữ (Khoisan).
- Đơn vị tiền tệ: Đồng Đô-la Namibia (NAD) (1 USD = 19 NAD).
- GDP: 14,69 tỷ USD (2025, theo IMF).
- GDP/ đầu người: 4.820 USD (2025, theo IMF).
- Lãnh đạo chủ chốt:
+ Tổng thống: Netumbo Nandi-Ndaitwah (từ tháng 3/2025);
+ Thủ tướng: Elijah Ngurare (từ tháng 3/2025);
+ Bộ trưởng Ngoại giao và Hợp tác Quốc tế: Selma Ashipala-Musavyi (từ tháng 3/2025).
2. Khái quát lịch sử:
Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19, người Bồ Đào Nha, người Anh, người Đức lần lượt xâm nhập lãnh thổ Tây Nam Phi (Namibia ngày nay). Năm 1883, Đức chiếm đóng và cai trị toàn bộ vùng này. Sau khi Đức bại trận trong thế chiến I, Hội Quốc liên trao cho Nam Phi quyền quản thác Tây Nam Phi. Năm 1920 Nam Phi đã biến lãnh thổ này thành thuộc địa của mình. Từ thập kỷ 60, 70, Liên hợp quốc ra nhiều Nghị quyết lên án Nam Phi, đòi Nam Phi trao trả độc lập cho Tây Nam Phi, nhưng Nam Phi vẫn tiếp tục chiếm đóng trái phép lãnh thổ này. Từ cuối thập kỷ 50, nhiều tổ chức yêu nước ở Tây Nam Phi ra đời với mục đích đấu tranh giải phóng dân tộc. Tháng 4/1960, ông Sam Nujoma thành lập Tổ chức Nhân dân Tây Nam Phi (SWAPO), phát triển nhanh chóng, được nhân dân ủng hộ mạnh mẽ và được Tổ chức Thống nhất châu Phi OUA (nay là Liên minh châu Phi AU), LHQ và Phong trào Không Liên kết công nhận. Sau khi Angola, Mozambique (1975) và Zimbabwe (1980) giành độc lập, cuộc đấu tranh của nhân dân Tây Nam Phi do SWAPO lãnh đạo bước sang giai đoạn mới. Hiệp định hoà bình về Tây Nam Phi được ký tháng 12/1988, Chính quyền Nam Phi buộc phải thực hiện NQ 435/78 của LHQ. SWAPO giành thắng lợi áp đảo trở thành Đảng cầm quyền trong cuộc tổng tuyển cử đầu tiên sau khi đất nước giành độc lập. Ngày 21/3/1990, Namibia tuyên bố độc lập, nước Cộng hoà Namibia ra đời; ông Sam Nujoma, Chủ tịch SWAPO được bầu làm Tổng thống đầu tiên.
3. Thể chế nhà nước, chế độ chính trị, đảng phái chính trị
- Namibia theo thể chế Cộng hòa Tổng thống, Tổng thống vừa là người đứng đầu Nhà nước, vừa là người đứng đầu Chính phủ. Tháng 02/2024 sau khi cựu Tổng thống Hage Geingob qua đời, Phó Tổng thống Nangolo Mbumba, thuộc Đảng Tổ chức Nhân dân Tây Nam Phi (SWAPO) đảm nhiệm chức vụ Tổng thống Namibia.
- Cơ cấu nghị viện: Quốc hội gồm 72 nghị sĩ được bầu trực tiếp, nhiệm kỳ 5 năm (bắt đầu từ 12/1994) và một Hội đồng Nhà nước gồm 26 nghị sĩ được bầu gián tiếp nhiệm kỳ 6 năm (bắt đầu từ 7/1993).
- Các đảng phái chính trị: Có khoảng 22 đảng phái hoạt động tại Namibia, các đảng phái chính bao gồm:
+ Tổ chức Nhân dân Tây Nam Phi (SWAPO): được thành lập năm 1960, Đảng cầm quyền kể từ khi Namibia giành độc lập khỏi chế độ Apartheid năm 1990. Chủ tịch Đảng SWAPO hiện nay là bà Netumbo Nandi-Ndaitwah đồng thời là Tổng thống của Namibia sau cuộc bầu cử Tổng thống tháng 11/2024.
+ Phong trào Dân chủ Nhân dân (PDM): được thành lập năm 1977 với tiền thân là Liên minh Dân chủ Turnhalle và chính thức lấy tên là PDM từ năm 2017 với Chủ tịch Đảng là ông McHenry Venaani.
+ Những người yêu nước tự do vì Thay đổi (IPC): được thành lập năm 2020 do ông Panduleni Itula làm chủ tịch đảng.
+ Phong trào vì người dân không có đất (LPM): được thành lập năm 2017 do ông Bernadus Swartbooi làm chủ tịch đảng.
+ Phong trào kiên quyết thay đổi (AR): được thành lập năm 2014 bởi Job Amupanda, Dimbulukeni Nauyoma và George Kambala.
4. Tình hình:
4.1 Chính trị nội bộ: Ngày 27/11/2024, Namibia đã tổ chức tổng tuyển cử bầu Tổng thống và Quốc hội. Kết quả: bà Netumbo Nandi-Ndaitwah, 72 tuổi, đại diện đảng cầm quyền SWAPO giành chiến thắng với 57,31% số phiếu ủng hộ; tiếp sau là ông Panduleni Itula, 67 tuổi của đảng IPC với số phiếu bầu là 25,5%. Bà Nandi-Ndaitwah trở thành Tổng thống thứ 5 của Namibia kể từ khi nước này giành độc lập vào năm 1990, đồng thời là nữ Tổng thống đầu tiên trong lịch sử Namibia.
4.2 Kinh tế - xã hội: Nền kinh tế Namibia phụ thuộc vào việc khai thác và chế biến khoáng sản xuất khẩu với nguồn tài nguyên thiên nhiên quí hiếm như uranium (thứ 4 thế giới), kim cương (thứ 5 thế giới). Tuy nhiên, một nửa dân số vẫn sống dựa vào nông nghiệp (chủ yếu là nông nghiệp tự cung tự cấp).
Namibia từ năm 2003 - 2008 tăng trưởng tốt nhờ tăng sản lượng đánh bắt cá và sản lượng khoáng sản (kẽm, đồng và uranium). Tuy nhiên, sau năm 2009 và đặc biệt sau giai đoạn tăng trưởng cao 2010-2016 (trung bình 5,6%), kinh tế Namibia suy giảm liên tiếp.
Hiện nay, Namibia đang tập trung triển khai Kế hoạch phát triển quốc gia trung hạn tiến tới thực hiện mục tiêu Tầm nhìn 2030, theo hướng đẩy mạnh du lịch, nông nghiệp, thủy sản, phát huy lợi thế có trên 1500 km bờ biển nhằm bảo đảm an ninh lương thực, giảm phụ thuộc vào nguồn thu từ hoạt động khai thác tài nguyên... Namibia có kế hoạch phát triển các dự án hydro xanh (Green Hydrogen) từ năng lượng mặt trời, gió... và mong muốn trở thành một trung tâm sản xuất và xuất khẩu hydro sạch.
5. Quan hệ đối ngoại
Namibia hiện là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như LHQ, Phong trào Không liên kết, Khối Liên hiệp Anh, WB, IMF và Liên minh châu Phi (AU), Cộng đồng phát triển miền Nam châu Phi (SADC)... Namibia đóng góp tích cực vào quá trình tìm giải pháp cho các xung đột tại châu Phi, đặc biệt trong khu vực SADC.
II. QUAN HỆ VIỆT NAM - NAMIBIA
- Quan hệ chính trị:
- Thiết lập quan hệ ngoại giao: Việt Nam và Namibia có quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp. Hai nước lập quan hệ ngoại giao ngày 21/3/1990 nhưng từ những năm 1970 hai nước đã có quan hệ kênh đảng và ủng hộ, giúp đỡ nhau trong cuộc đấu tranh giành độc lập của mỗi nước.
- Cơ quan đại diện: Đại sứ quán Việt Nam tại Nam Phi kiêm nhiệm Namibia, Đại sứ quán bạn tại Trung Quốc kiêm nhiệm Việt Nam.
- Hoạt động trao đổi đoàn:
+ Đoàn Việt Nam thăm Namibia: Chủ tịch nước Trần Đức Lương (10/2002).
+ Đoàn Namibia thăm Việt Nam: Tổng thống Hifikepunye Pohamba thăm
Việt Nam (11/2013).
- Tiếp xúc song phương: Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Đức Phớc tiếp xúc song phương với Tổng thống Namibia bên lề Hội nghị Phát triển bền vững Hamburg (10/2024).
- Về cơ chế hợp tác song phương: hai Bộ Ngoại giao đã ký Nghị định thư về hợp tác tháng 10/2002. Hai bên đã tổ chức Tham vấn chính trị cấp Thứ trưởng tháng 12/2012 tại Hà Nội. Ngày 24/10/2022, Thứ trưởng Ngoại giao Phạm Quang Hiệu đã hội đàm trực tuyến với Thứ trưởng Ngoại giao và Hợp tác Namibia Jenelly Matundu.
- Hợp tác kinh tế - thương mại - đầu tư và các lĩnh vực khác
- Hợp tác thương mại còn khiêm tốn với kim ngạch thương mại song phương năm 2025 đạt 10 triệu USD. Việt Nam xuất khẩu các mặt hàng sản phẩm từ sắt thép, phương tiện vận tải và phụ tùng, chất dẻo nguyên liệu; nhập chủ yếu là hàng thủy sản, nguyên phụ liệu dệt may, da giày...
- Về nông nghiệp, Việt Nam đã cử một số chuyên gia tham gia dự án 3 bên về thủy sản do FAO tài trợ (2010-2014).
- Các hiệp định, thoả thuận đã ký kết giữa hai nước
Hiệp định khung về hợp tác kinh tế, thương mại, văn hoá, khoa học kỹ thuật (7/2002), Nghị định thư hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao (10/2002), Hiệp định Thương mại (5/2003), Hiệp định Khuyến khích và bảo hộ đầu tư (5/2003), Hiệp định hợp tác ba bên Việt Nam - Namibia - FAO (2009), Bản ghi nhớ về hợp tác kỹ thuật trong lĩnh vực nông nghiệp (11/2013), Hiệp định Miễn thị thực cho Hộ chiếu Ngoại giao và Công vụ ngày (11/2013) (chưa có hiệu lực)./.
Tháng 1/2026