TÀI LIỆU CƠ BẢN CHLB ĐỨC
I. Thông tin cơ bản:
- Tên nước: Cộng hoà Liên bang Đức (Federal Republic of Germany)
- Thủ đô:
- Ngày Quốc khánh: 3/10 (ngày thống nhất nước Đức)
- Vị trí địa lý: Trung Âu, Đức nằm giữa lòng Châu Âu và được bao bọc bởi 9 nước láng giềng: Pháp, Áo, Thuỵ Sĩ, Séc, Ba Lan, Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ và Luxemburg. Tổng biên giới dài 3757km.
- Diện tích: 357.021 km2
- Khí hậu: vùng khí hậu đại dương/ lục địa ôn hoà với thời tiết thường xuyên thay đổi và chủ yếu là gió Tây. Có các mùa xuân, hạ, thu, đông, rất khác nhau về nhiệt độ và mức độ mưa mù, tuyết sương.
- Dân số: 82,3 triệu. Khoảng 7,3 triệu người nước ngoài sinh sống ở Đức (8,8% dân số), trong đó có khoảng 100.000 người Việt
- Dân tộc: người Đức là chủ yếu. Ngoài ra còn có dân tộc thiểu số Doben sống ở Đông Đức.
- Ngôn ngữ: tiếng Đức
- Tôn giáo: gần 53 triệu người theo đạo Thiên chúa (26 triệu theo Công giáo, 26 triệu theo Tin lành, 900.000 theo dòng Chính thống), 3,3 triệu theo đạo Hồi, 230.000 theo đạo Phật, 100.000 theo đạo Do Thái, 90.000 theo đạo Hindu.
- Cơ cấu hành chính: CHLB Đức là nhà nước liên bang. Liên bang cũng như 16 Bang đều có các thẩm quyền riêng. Cấp liên bang có thẩm quyền về các lĩnh vực chính sách đối ngoại, chính sách Châu Âu, quốc phòng, tư pháp, lao động, xã hội, thuế và y tế. Thẩm quyền về các lĩnh vực trật tự an toàn xã hội, giáo dục phổ thông, đại học cũng như hành chính và cấp địa phương nằm trong tay các Bang. Các thẩm quyền của Liên Bang được giới hạn chủ yếu trong công tác lập pháp và các Bang tham gia vào công tác đó thông qua đại diện của mình ở Hội đồng Liên Bang (Thượng nghị Viện). Bộ máy hành chính các Bang không chỉ có trách nhiệm thực thi các đạo luật của Bang mà của cả Liên Bang. Nguyên nhân của việc phân chia này nằm ở trong quá khứ: Nhà nước quốc gia Đức được thành lập năm 1871 từ một liên minh của nhiều nước riêng rẽ. Như vậy không cần phải xây dựng một bộ máy hành chính nhà nước trung ương lớn hơn nữa. Trong 16 Bang có 3 Bang - thành phố. Lãnh thổ của 3 Bang này đồng thời là diện tích của 3 thành phố lớn Berlin, Bremen/Bremehaven và Hamburg, trong khi các Bang khác có xen kẽ nhiều thành phố, thị trấn và làng xã nông thôn.
- Lãnh đạo chủ chốt: Tổng thống Christian Wulff (CDU)[1] Thủ tướng Angela Merkel (CDU)[2] ; Ngoại trưởng Guido Westerwelle (FDP)[3]; Chủ tịch Quốc hội Liên bang Nobert Lammert (CDU)[4].
- Đơn vị tiền tệ: Euro
- GDP 2009: 2.407 tỉ Euro (tương đương 3409 tỉ USD)[5]
- Thu nhập bình quân đầu người năm 2009: 29.410 Euro (tương đương 41.000 USD)[6]
II. Khái quát lịch sử:
Sau chiến tranh Pháp - Phổ (1870 – 1871) các nhà nước
Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, nước Đức và thủ đô
- Ngày 7/9/1949, ở phần đất quân quản của đồng minh phương Tây đã tổ chức tuyển cử, bầu Nghị viện Tây Đức và tuyên bố thành lập nước CHLB Đức.
- Ngày 7/10/1949, khu vực quân quản phía đông Đức và phía đông Thủ đô
- Ngày 13/8/1961, bức tường
- Ngày 9/11/1989, chính quyền Đông Đức tuyên bố mở cửa bức tường
- Ngày 3/10/1990, CHDC Đức sát nhập vào CHLB Đức thành nước Đức ngày nay. Ngày 3/10 được coi là ngày Quốc khánh của nước CHLB Đức thống nhất.
- Ngày 24/6/1991, Quốc hội CHLB Đức đã bỏ phiếu chọn
III. Thể chế nhà nước, chế độ chính trị, đảng phái chính trị, Lãnh đạo chủ chốt (thuộc đảng phái nào):
1. Quốc hội Liên bang (Hạ viện):
Quốc hội Liên bang (QHLB) là cơ quan được bầu đại diện cho nhân dân. Hệ thống bầu cử của Đức tương đối phức tạp, quy định mỗi đảng tranh cử phải giành được ít nhất 5% số phiếu bầu mới được tham gia Quốc hội. QHLB được tổ chức trong các đoàn nghị sĩ của các đảng (Fraktion) và họ bầu một nghị sĩ trong số họ vào chức vụ Chủ tịch QHLB. QHLB bầu Thủ tướng Liên bang (TTg LB) và có thể bãi nhiệm TTg LB bằng cách bỏ phiếu bất tín nhiệm.
Nhiệm vụ thứ 2 của QHLB là lập pháp. Từ năm 1949 đã có khoảng hơn 10.000 dự án luật được đưa ra QHLB và hơn 6.600 luật được thông qua, đa số là các luật sửa đổi.
Nhiệm vụ thứ 3 của QHLB là kiểm tra giám sát hoạt động của Chính phủ. Phần công việc kiểm tra của QHLB được công bố trước công luận là do phe đối lập trong QH thực hiện.
Các Uỷ ban chuyên môn của QHLB là các cơ quan của toàn thể QH. QHLB khoá 17 (bầu cử năm 2009) có 22 Uỷ ban. Hiến pháp quy định phải có Uỷ ban đối ngoại, Uỷ ban EU, Uỷ ban quốc phòng và Uỷ ban khiếu nại. Nhiệm vụ của các Uỷ ban là chuẩn bị cho các cuộc họp bàn của QHLB. Các dự thảo luật sẽ được xem xét với sự có mặt của đại diện Chính phủ Liên bang và Hội đồng Liên bang và các mâu thuẫn giữa Chính phủ và phe đối lập sẽ được cân bằng trong chừng mực có thể.
5 đảng chính trị với tổng cộng 622 đại biểu tham gia QHLB khoá 17 (2009-2013), số ghế được phân chia như sau: CDU/CSU: 239; SPD: 146; FDP: 93; Cánh tả: 76; Đảng Xanh: 68. 33% số đại biểu là phụ nữ.
2. Hội đồng Liên bang (Thượng viện):
Hội đồng Liên bang là cơ quan đại diện của 16 bang, không phải do tổng tuyển cử bầu ra mà do Quốc hội các bang cử với số lượng tỉ lệ thuận với dân số của từng bang. Những đạo luật quan trọng sau khi đã được Quốc hội thông qua phải được Hội đồng liên bang chuẩn y thì Tổng thống mới phê duyệt. Thủ hiến các bang thay nhau làm Chủ tịch Hội đồng Liên bang với thời hạn 1 năm. Chủ tịch Hội đồng liên bang thực hiện các công việc của Tổng thống khi Tổng thống vắng mặt.
3. Tổng thống Liên bang:
TTh LB là đại diện cho CHLB Đức với tư cách là Nguyên thủ quốc gia. TTh đại diện đất nước đối với quốc tế và bổ nhiệm các thành viên Chính phủ, thẩm phán và quan chức cao cấp. Với chữ ký của mình, TTh quyết định các đạo luật có hiệu lực. Theo đề nghị của TTg LB, TTh bãi nhiệm Chính phủ và được phép giải tán Quốc hội trước khi kết thúc nhiệm kỳ trong trường hợp ngoại lệ như hồi mùa hè 2005. Luật cơ bản không trao cho TTh quyền phủ quyết các nghị quyết luật của Quốc hội như TTh Mỹ hoặc các TTh khác. Tuy TTh công nhận các nghị quyết của QH và đề nghị nhân sự của Chính phủ, nhưng TTh chỉ kiểm tra quá trình dẫn đến các nghị quyết, đề nghị đó có phù hợp với quy định của Luật cơ bản không.
Nhiệm kỳ của TTh là 5 năm và có thể được bầu lại thêm một lần nữa. Đại hội liên bang gồm một nửa là nghị sĩ QHLB và một nửa là đại diện do Quốc hội 16 Bang bầu nhóm họp 5 năm một lần để bầu TTh mới.
4. Thủ tướng Liên bang và Chính phủ:
TTg LB là thành viên duy nhất của Chính phủ Liên bang được bầu. Hiến pháp trao cho TTg quyền tự chọn bộ trưởng là người đứng đầu các cơ quan chính trị quan trọng nhất. Ngoài ra, TTg LB quyết định số lượng các bộ và ấn định thẩm quyền của các bộ. Điều 65, câu 1 của Hiến pháp quy định TTg LB có thẩm quyền đưa ra định hướng, ấn định những trọng tâm công tác của chính phủ.
TTg LB và các bộ trưởng Liên bang thành lập Chính phủ Liên bang. Bên cạnh thẩm quyền đưa ra định hướng của TTg LB còn có nguyên tắc ngành, theo đó bộ trưởng tự lãnh đạo ngành của mình trong khuôn khổ định hướng đó, cũng như nguyên tắc đồng nghiệp, tức là Chính phủ Liên bang quyết định theo đa số về những vấn đề tranh cãi. TTg lãnh đạo công việc của Chính phủ.
Hệ thống bầu của Đức làm cho từng đảng riêng rẽ rất khó một mình đứng ra thành lập chính phủ. Thông thường, các đảng phải liên minh với nhau. Từ cuộc bầu cử QHLB đầu tiên năm 1949 đến nay, đã có 22 Chính phủ liên minh ở Đức. Chính phủ của Đức nhiệm kỳ 2009 - 2013 gồm 15 Bộ và một cơ quan ngang Bộ là Phủ Thủ tướng.
5. Toà án Hiến pháp Liên bang:
Toà án Hiến pháp Liên bang (TAHPLB) có trụ sở tại thành phố
6. Các đảng chính trị:
Ở Đức có khoảng 37 đảng đăng ký hoạt động, nhưng chỉ có một số đảng lớn có ghế trong Quốc hội Liên bang và thay nhau cầm quyền. Các chính đảng lớn gồm CDU/CSU (Dân chủ Thiên chúa giáo/ Xã hội Thiên chúa giáo), SPD (Xã hội Dân chủ), FDP (Tự do Dân chủ), đảng Xanh và đảng Cánh tả (trước đây là đảng XHCN thống nhất – SED).
a. Đảng Xã hội Dân chủ (SPD) là đảng cánh tả lớn nhất và cũng là chính đảng lâu đời nhất ở Đức được thành lập năm 1863. Sau khi bị cấm trong thời kỳ chủ nghĩa phát xít, đảng được tái lập năm 1945. Với chương trình Godesberg năm 1959, đảng chính thức không còn là một đảng công nhân mà là một đảng quần chúng. Niềm tin của đảng là “Tự do, Công bằng và Đoàn kết”.
b. Đảng Cánh tả: là đảng kế thừa của Đảng XHCN thống nhất Đức (SED), là đảng lãnh đạo CHDC Đức trước đây. Đảng dựa trên lý tưởng XHCN, ủng hộ phong trào cánh tả và phần nào phong trào dân chủ xã hội.
c. Liên minh dân chủ Thiên chúa giáo và xã hội Thiên chúa giáo (CDU/CSU): Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo (CDU): là đảng cánh hữu lớn nhất ở Đức, thành lập năm 1945 và có khuynh hướng bảo thủ. Đảng Liên minh xã hội Thiên chúa giáo (CSU) có đường lối bảo thủ tương tự nhưng chỉ hoạt động tại Bayern. Hai đảng này cùng nhau tạo thành một đảng phái chung trong Quốc hội Liên bang Đức, thường được gọi chung là “liên minh” hay “các đảng liên minh”.
d. Đảng Dân chủ Tự do (FDP): thành lập năm 1948. Đảng FDP ủng hộ quyền tự do cá nhân, đặc biệt trong các vấn đề kinh tế và quyền công dân. FDP là đối tác Liên minh nhỏ, nhưng tham gia Chính phủ liên bang nhiều nhiệm kỳ.
e. Đảng Xanh: ra đời từ các phong trào xã hội mới cuối thập kỷ 1970 như phong trào phụ nữ, phong trào hoà bình và phong trào sinh thái. Năm 1983, Đảng được bầu vào Quốc hội Liên bang lần đầu tiên. Năm 1990, đảng Xanh hoà nhập với phong trào nhân dân Đông Đức (Liên minh 90) trở thành Liên minh 90/ Xanh. Đảng Xanh là lực lượng đang nổi lên, ngày càng thu hút nhiều sự ủng hộ do nhu cầu cấp thiết về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.
f. Các đảng phái khác: một số đảng khác có khuynh hướng cực hữu như Người Cộng hoà (REP), Liên minh Nhân dân Đức (DVU), Dân chủ quốc gia Đức (NPD), v.v…đều là các đảng nhỏ, chưa từng có ai đại diện trong Quốc hội Liên bang trong 60 năm qua, nhưng có thời điểm có chân trong quốc hội một số bang. Các đảng này phát triển khá mạnh ngay sau khi tái thống nhất nước Đức do lợi dụng tâm lý bất bình của người dân với chính sách nhập cư của Chính phủ, song hiện nay có xu hướng suy yếu.
IV. Kinh tế:
1. Mô hình kinh tế: Luật cơ bản không quy định một trật tự kinh tế nhất định nào, nhưng loại trừ nền kinh tế thị trường thuần tuý và tự do bằng cách gắn chặt vào đó nguyên tắc xã hội. Đức thực hiện đường lối “Kinh tế thị trường xã hội” với phương châm “ít nhà nước như có thể, nhiều nhà nước như cần thiết”. Phương châm cơ bản của nó là dựa trên nguyên tắc tự do của một nền kinh tế thị trường, bổ sung bằng những biện pháp cân bằng xã hội, nghĩa là nhà nước có một loạt các biện pháp phòng ngừa nguy cơ. Mô hình kinh tế thị trường xã hội của Đức rất chú trọng phúc lợi xã hội và dân sinh.
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu cũng tác động đến Đức. Năm 2009, tổng sản phẩm quốc nội GDP giảm 5%. Thiệt hại nặng nề nhất là các ngành định hướng xuất khẩu chế tạo máy và thiết bị cũng như ngành sản xuất ô tô. Luật ổn định thị trường tài chính ban hành cuối năm 2008 đã đưa ra một gói cứu trợ nền kinh tế đối phó với những hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính. Chương trình kích cầu của chính phủ đã ổn định nhu cầu nội địa, giữ vững chỉ số việc làm nhờ những biện pháp như giờ làm việc linh hoạt hoặc giảm giờ làm việc. Đức là một trong những quốc gia phục hồi nhanh nhất sau khủng hoảng kinh tế. Mức độ tăng trưởng nămg 2010 đã đạt 3,5%, cao hơn so với dự kiến lúc đầu là 1,2 - 1,5%, tăng trưởng Quý I năm 2011 đạt 1,4%.
2. Cơ cấu kinh tế: Đức là một trong những nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới, đứng thứ 4 thế giới sau Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc về GDP, đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu (năm 2009 xuất 1121,3 tỉ USD, Trung Quốc 1201,7 tỷ USD). Các ngành công nghiệp chủ yếu là: chế tạo xe hơi, chế tạo máy móc, thiết bị, công nghiệp hoá chất, công nghiệp kỹ thuật điện và điện tử. Từ năm 1975 Đức là thành viên của G8.
- Công nghiệp: Các ngành công nghiệp chủ yếu là: Chế tạo xe hơi, chế tạo máy móc, thiết bị, công nghiệp hoá chất, công nghiệp kỹ thuật điện và điện tử.
Đức có nhiều tập đoàn đa quốc gia tầm cỡ thế giới như BASF, Robert Bosch GmbH, E.On, Deutsche Telekom, Siemens AG, Deusche Bank, v.v… Tuy nhiên, xương sống của kinh tế Đức là các công ty có quy mô vừa và nhỏ (thu hút khoảng 20 triệu lao động). Từ 1975 Đức là thành viên của G8.
- Nông nghiệp: Phần lớn diện tích nước Đức dùng cho nông nghiệp, nhưng chỉ có 2-3% dân số Đức làm việc trong ngành này. Vùng bờ biển phía Bắc chuyên nuôi bò sữa và ngựa. Vùng chân núi
- Dịch vụ: Phát triển mạnh trong những năm gần đây và hiện đóng góp nhiều nhất vào GDP.
Đức là một trong những nước có mạng lưới giao thông dày nhất thế giới (đứng thứ 2 sau Mỹ), bao gồm 11.980km đường cao tốc và 41.386km đường liên tỉnh. Bên cạnh tài chính ngân hàng,
3. Thương mại
Xuất khẩu có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Đức, thu hút khoảng 25% lực lượng lao động. Đức là nước xuất khẩu lớn thứ 2 thế giới với 1.120 tỷ USD (Trung Quốc mới vượt Đức năm 2009), đồng thời là thị trường nhập khẩu lớn thứ 3 thế giới (sau Mỹ, Trung Quốc) với quy mô khoảng 930 tỷ USD. Hàng chế tạo và công nghệ chiếm 60% kim ngạch xuất khẩu, bao gồm máy móc, hàng điện tử, ôtô, các sản phẩm hoá chất, thực phẩm, hàng dệt may, dụng cụ quang học và điện năng. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc, phương tiện vận chuyển, hoá chất. Đối tác thương mại quan trọng nhất của Đức là EU, Mỹ, Trung Quốc. Thị trường EU chiếm gần 60% xuất khẩu. Xuất khẩu của Đức ra ngoài EU, đặc biệt là các thị trường mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ có xu hướng tăng nhanh.
Là nền kinh tế hướng xuất khẩu có sức cạnh tranh cao, Đức ủng hộ tự do hoá thương mại. Bên cạnh tập trung vào thị trường EU và Mỹ, Đức cũng tìm cách mở rộng các thị trường đang nổi lên ở Châu Á- TBD, Mỹ Latinh và Châu Phi.
4. Đầu tư:
Đức có môi trường đầu tư hấp dẫn nhờ sở hữu nhiều công nghệ, know-how, có vị trí địa- chính trị ở trung tâm châu Âu, cơ sở hạ tầng chất lượng cao, pháp luật hoàn thiện, nguồn nhân lực chất lượng cao. Do chi phí lao động ngày càng cao, nên Đức có lợi thế thu hút đầu tư trong những ngành sử dụng công nghệ và vốn, mất dần lợi thế trong các ngành sử dụng lao động. Những cải cách về thuế doanh nghiệp ngang bằng với mức bình quân thế giới tạo thuận lợi nhất định cho giảm chi phí đầu tư ở Đức, góp phần giúp Đức duy trì hấp dẫn đầu tư
Đức cũng là nước đầu tư lớn nắm nhiều công nghệ nguồn. Hàng năm, Đức đầu tư ra nước ngoài khoảng 30-45 tỷ Euro trong đó chủ yếu tập trung vào các nước EU và Trung Quốc.
6. Chính sách ODA - Hợp tác phát triển:
Từ năm 1998, Đức đã bắt đầu tập trung cung cấp ODA cho một số nước trọng tâm. Đối tác nhận ODA của Đức gồm khoảng 70 nước, được phân làm hai loại là các nước trọng tâm và các nước đối tác phát triển. Ngân sách ODA hàng năm của Đức khoảng 3-4 tỷ Euro cho nhiều lĩnh vực khác nhau. Hiện nay, viện trợ phát triển của Đức chiếm 0,28% GDP. Đức cam kết dành 0,33% GDP cho viện trợ phát triển và đang phấn đấu đạt mục tiêu năm 0,7% GDP vào năm 2015 cho viện trợ phát triển theo mục tiêu đề ra của LHQ./
V. Chính sách đối ngoại:
Về đối ngoại, Đức trở thành một nước thực sự có chủ quyền sau khi ký Hiệp ước 2+4[7] ở Matx-cơ-va vào ngày 12/9/1990, có hiệu lực từ ngày 15/3/1991, kết thúc hoàn toàn tình trạng sau chiến tranh. Hiện Đức là thành viên tích cực và có vai trò quan trọng tại EU, NATO, OECD, LHQ....
- Cơ sở chính sách đối ngoại: Đặc điểm chính sách đối ngoại của Đức là tính kế thừa và sự tin cậy. Chính sách này thể hiện trong quan hệ hợp tác đối tác và sự cân bằng lợi ích. Những khẩu hiệu của Đức là "không bao giờ lặp lại" thể hiện việc quay lưng với chính sách độc tài và bành trướng cũng như nghi ngờ một cách sâu sắc những phương tiện quyền lực quân sự; "không bao giờ một mình" có nghĩa là găn kết chặt chẽ vào cộng đồng phương Tây. Sự hoà nhập của Đức vào một Châu Âu ngày càng kết nối với nhau chặt chẽ hơn và sự gắn kết của Đức vào khối quân sự Bắc Đại Tây dương (NATO). Đức ủng hộ một thế giới đa cực, tôn trọng luật pháp quốc tế, đấu tranh cho nhân quyền, đối thoại, phòng ngừa khủng hoảng, tránh sử dụng bạo lực và kiến tạo lòng tin. Ngoài ra, chính sách văn hoá và giáo dục đào tạo đối ngoại là một phần trong chính sách đối ngoại của Đức. Phần lớn chính sách đó được các tổ chức như Viện Goethe, Cơ quan trao đổi hàn lâm Đức DAAD, Quỹ Alexander von Humboldt, Viện quan hệ nước ngoài và UNESCO của Đức thực hiện.
- Ưu tiên đối ngoại và an ninh: Quan hệ đối tác xuyên Đại Tây dương là cơ sở an ninh của Đức và Châu Âu, dựa trên liên minh chính trị và quân sự. Mối quan hệ với Mỹ có truyền thống lịch sử lâu đời, có nguồn gốc chung về văn hoá (do có nhiều người Đức di cư sang Mỹ trong những thế kỷ trước) cũng như các giá trị khác như dân chủ, nhân quyền...
- Vai trò LHQ và NATO: Đức cho rằng LHQ đóng vai trò then chốt trong giải quyết các thách thức to lớn trong Thế kỉ 21, cần cải cách HĐBA LHQ theo hướng cân đối hơn giữa các khu vực. NATO là công cụ là công cụ không thể thiếu được đối với ổn định của Châu Âu; cần thích ứng hơn với môi trường an ninh đã thay đổi.
Đức nỗ lực thiết lập quan hệ đối tác an ninh bền vững với Nga, ủng hộ hợp tác kinh tế, tài chính và xã hội với Nga trên bình diện song phương cũng như đa phương. Đức muốn tận dụng việc mở rộng EU và NATO sang phía Đông để tăng cường hợp tác với Đông Âu.
Đức kiên quyết chống khủng bố trong khuôn khổ liên minh toàn thế giới. Đức hợp tác với LHQ, Mỹ, EU và Nga trong việc giải quyết xung đột ở Trung Đông. Đức thực hiện chính sách ngoại giao cân bằng trong quan hệ với các nước Trung-Đông, đặc biệt trong mối quan hệ giữa Pa-let-xtin và I-xra-en. Vì vậy, vai trò hoà giải của Đức đều được các nước trong khu vực Trung-Đông hoan nghênh.
Đức ngày càng coi trọng phát triển quan hệ với Châu Á - Thái Bình Dương, trước hết với Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ.
Đức quan hệ với Châu Phi ở mức thấp, có viện trợ nhân đạo và viện trợ phát triển cho một số nước nghèo. Gần đây, Đức bắt đầu chú ý hơn thị trường Châu Phi.
QUAN HỆ VỚI VIỆT
I. Quan hệ chính trị, ngoại giao:
Việt
Trao đổi đoàn cấp cao:
Đoàn ta thăm bạn: Thủ tướng Võ Văn Kiệt (1993); Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh (1993); Thủ tướng Phan Văn Khải (2001); Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh (2004); Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (2008). Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm thăm CHLB Đức tháng 9/2010 nhân dịp hai nước kỷ niệm 35 năm thiết lập quan hệ ngoại giao.
Đoàn bạn thăm ta: Thủ tướng Helmut Kohl (1995); Chủ tịch Quốc hội Liên bang Wolfgang-Thierse (2001); Thủ tướng Gerhard Schroeder (2003 và 2004); Chủ tịch Hội đồng Liên bang Matthias Platzeck (2005); Tổng thống Horst Koehler (2007); Chủ tịch Hội đồng Liên bang Harald Ringstorff (2007); Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Frank-Walter Steinmeier (2008), Bộ trưởng Ngoại giao Guido Westerwelle (2011).
Riêng năm 2010 có hơn 50 đoàn các Bộ, ngành của Việt Nam sang thăm và làm việc tại Đức và hơn 10 đoàn Đức vào Việt Nam, hơn nửa trong số đó thuộc lĩnh vực kinh tế - thương mại-đầu tư.
Từ nhiều năm nay Đức là một trong những đối tác quan trọng nhất của ta ở Châu Âu. Chính giới Đức, dù là đảng cầm quyền hay đối lập, đều đánh giá cao sự phát triển và vị trí của Việt Nam ở khu vực Đông Nam Á. Sự tin cậy và hiểu biết lẫn nhau giữa hai nước ngày càng được tăng cường thông qua duy trì trao đổi đoàn cấp cao và cơ chế tham vấn chính trị giữa hai Bộ Ngoại giao (cấp Thứ trưởng và cấp Vụ trưởng Vụ khu vực) được thiết lập từ 2008. Tại phiên Tham vấn chính trị cấp Thứ trưởng Ngoại giao hai nước đầu tiên (19/2/2009), hai bên đã ký Bản ghi nhớ về Hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao Việt – Đức, trong đó đề ra các mục tiêu và biện pháp cụ thể tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực ưu tiên.
Trên các diễn đàn đa phương và quốc tế như ASEM, Liên Hiệp quốc, hai bên thường xuyên phối hợp chặt chẽ.
II. Quan hệ kinh tế - thương mại – đầu tư:
Hai nước đã ký một số Hiệp định tạo cơ sở pháp lý cho quan hệ hợp tác kinh tế như: Hiệp định tránh đánh thuế hai lần; Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư, các hiệp định Hàng hải, Hàng không.
1. Thương mại:
Đức là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam ở Châu Âu, chiếm 19% xuất khẩu của ta sang EU (bằng cả Anh và Pháp cộng lại); và cũng là cửa ngõ trung chuyển quan trọng của hàng hoá Việt Nam sang các thị trường khác ở châu Âu. Năm 2010, tổng giá trị trao đổi thương mại hai nước đạt 4,115 tỷ USD (tăng 18,5% so với năm 2009), trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang Đức đạt 2,373 tỷ USD (tăng 25,8%) và nhập khẩu của Việt Nam từ Đức đạt 1,742 tỷ USD (tăng 9,7%).
Việt
Trong 2 tháng đầu năm 2011, xuất khẩu của Việt Nam sang Đức đạt 450,983 triệu USD, tăng 38,04% trong khi nhập khẩu từ Đức đạt 227,480 triệu USD, giảm 5,36 so với cùng kỳ năm ngoái. Các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu chủ yếu sang Đức theo thứ tự tổng trị giá là giày dép, hàng dệt may, cà phê hạt, đồ gỗ, thủy sản, đồ da v.v.., và nhập từ Đức chủ yếu là máy móc, thiết bị kỹ thuật, ô tô, máy dệt, dược phẩm, hoá chất[8].
2. Đầu tư:
Là nền kinh tế hướng tới xuất khẩu, Đức coi Việt
Tuy nhiên, đầu tư của Đức vào Việt
Hầu hết các dự án của Đức tập trung trong lĩnh vực công nghệ chế biến, chế tạo với 72 dự án với tổng số vốn đăng ký là 431 triệu USD; tiếp đến là lĩnh vực sản xuất, phân phối điện với số vốn đăng ký là 233 triệu USD. Ngoài ra có các dự án về nông, lâm ngư nghiệp, ngân hàng, bảo hiểm,…Các dự án đầu tư của Đức phân bố ở 24 tỉnh, thành của Việt Nam, trong đó tập trung chủ yếu tại Tp. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương và Đồng Nai.
Tính đến tháng 4/2011, các doanh nghiệp Việt Nam đã có 10 dự án đăng ký đầu tư sang Đức với tổng vốn đầu tư trên 24,23 triệu USD, trong đó điển hình là Công ty Liên doanh Nhà Việt (VietHaus) có tổng vốn đầu tư là 9,4 triệu USD; dự án kinh doanh thương mại, dịch vụ của công ty Nam Bằng có tổng vốn đầu tư là 1,34 triệu USD[9]…
III. Quan hệ hợp tác phát triển:
Đức là một trong những nước viện trợ nhiều và thường xuyên ODA cho Việt
ODA của Đức tập trung chủ yếu vào 3 lĩnh vực trọng tâm sau đây:
- Hỗ trợ cải cách kinh tế, phát triển kinh tế bền vững.
- Chính sách môi trường, bảo vệ và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên bao gồm cung cấp nước và xử lý nước và rác thải.
- Y tế, kế hoạch hóa gia đình, phòng chống HIV/AIDS.
Về hình thức viện trợ: Chính phủ Đức một mặt vẫn duy trì các khoản viện trợ truyền thống, mặt khác mở ra một kênh vay vốn mới là vốn vay phát triển. Nguồn vốn này gồm 50% do Chính phủ Đức tài trợ thông qua chương trình tín dụng ưu đãi, 50% còn lại được Ngân hàng Tái thiết Đức huy động trên thị trường với lãi suất niêm yết từng thời kỳ.
Về quy mô cam kết: từ cuối năm 2009 và đầu năm 2010, Chính phủ Đức đã cam kết viện trợ cho Việt Nam 203,4 triệu Euro, trong đó có 12,4 triệu Euro được tái cam kết cho các dự án; 9 triệu Euro vốn vay ưu đãi dành cho "Chương trình phát triển đô thị/ hệ thống vệ sinh"; 9 triệu Euro vốn không hoàn lại dành cho giai đoạn tiếp theo của một số dự án hỗ trợ kỹ thuật; 3 triệu Euro vốn không hoàn lại cho dự án về đa dạng sinh học của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; và 170 triệu Euro vốn vay phát triển IKLU dành cho dự án "Cải tạo lưới điện nông thôn" (120 triệu Euro) và "Chương trình bảo vệ môi trường và vùng khí hậu" (50 triệu Euro).
Tại cuộc họp đàm phàn Chính phủ Việt - Đức (25-26/10/2010 tại Berlin), Chính phủ Đức đã cam kết dành cho Việt 283,8 triệu Euro cho hai năm 2011-2012, trong đó có 26,3 triệu Euro về hợp tác kỹ thuật (TC) và 257,5 triệu Euro về hợp tác tài chính (FC). Trong tổng vốn cam kết, lượng vốn vay là 257,5 triệu Euro, trong đó 57,5 triệu Euro vay theo điều kiện IDA (thời gian trả nợ 40 năm, 10 năm ân hạn, lãi suất 0,75%/năm), và 200 triệu Euro vốn vay phát triển (điều kiện tài chính sơ bộ: thời gian trả nợ từ 12-15 năm, ân hạn có thể đến 3 năm, lãi suất từ 2,5 - 3%/năm). Các dự án được cam kết vốn cho giai đoạn 2011-2012 được dựa trên danh mục dự án và chủ trương đàm phán đã được TTg Chính phủ đồng ý tại công văn số 7628/VPCP-QHQT ngày 25/10/2010.
Ngoài ra, Bộ Môi trường, Bảo tồn thiên nhiên và An toàn hạt nhân CHLB Đức đã có khoản cam kết trị giá 15,733 triệu Euro cho 5 dự án của Việt Nam thuộc lĩnh vực bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Đây là khoản cam kết mới ngoài khuôn khổ chương trình hợp tác truyền thống.
Cùng với số vốn cam kết vào cuối năm 2009 và đầu năm 2010, tổng số vốn cam kết của Chính phủ Đức cho Việt Nam giai đoạn 2010 - 2012 đạt mức 502,933 triệu Euro, cao hơn mức cam kết năm 2008 (117 triệu Euro cho năm 2008-2009)[10].
IV. Quan hệ hợp tác văn hóa, giáo dục, du lịch:
1. Văn hóa:
Năm 1990, Việt
2. Hợp tác giáo dục và đào tạo giữa hai nước trong thời gian qua đạt được nhiều kết quả tốt đẹp. Hàng năm, Đức cấp cho Việt Nam nhiều học bổng đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ, hiện có khoảng 300 nghiên cứu sinh Việt Nam nhân học bổng của Đức đang học tập và nghiên cứu tại Đức. Ngoài ra, các cơ quan chức năng của hai nước đang tích cực triển khai Chương trình đào tạo 85 nghiên cứu sinh/năm tại bang Hessen của Đức.
Dự án quan trọng của hai nước trong lĩnh vực này là Trường Đại học Việt- Đức, được thành lập từ tháng 9/2008 tại Tp. Hồ Chí Minh với sự hỗ trợ tích cực của Tổ chức DAAD và bang Hessen (Đức). Trường hoạt động theo mô hình của đại học Đức và đạt chuẩn quốc tế về chất lượng.
Ngoài ra, Đức còn có chương trình dạy thí điểm tiếng Đức là ngoại ngữ hai tại một số trường phổ thông tại Hà Nội như trường THPT Việt – Đức, trường THPT chuyên ngữ thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Phía Đức cũng hỗ trợ các cơ sở đào tạo tiếng Đức tại Việt Nam về trang thiết bị đào tao, cung cấp giáo viên bản ngữ và cấp học bổng cho giáo viên cũng như các sinh viên, học sinh đạt kết quả học tập xuất sắc.
V. Quan hệ hợp tác khoa học- kỹ thuật:
Trước năm 1995, hợp tác khoa học và công nghệ giữa Việt Nam và CHLB Đức được thực hiện chủ yếu thông qua các chương trình đào tạo, nâng cao trình độ cho các cán bộ nghiên cứu với sự tài trợ của Cơ quan trao đổi Hàn lâm Đức (DAAD), Quỹ khoa học trẻ Alexander & Humboldt, Quỹ đào tạo chuyên gia trong ngành công nghiệp (CDG), Quỹ phát triển (DSE)...
Kể từ sau khi ký Nghị định thư hợp tác nghiên cứu khoa học giữa Bộ Khoa học và Công nghệ (KHCN) và Bộ Giáo dục và Nghiên cứu Đức (BMBF) năm 1997, hợp tác về khoa học, công nghệ giữa hai nước đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Hai bên thường xuyên trao đổi các đoàn nghiên cứu khoa học, tổ chức hội nghị, hội thảo chuyên ngành và triển khai các dự án nghiên cứu chung với sự tham gia của các chuyên gia hai bên. Hiện nay, Việt
Một số chương trình, dự án hợp tác điển hình:
+ Bộ KHCN và Bộ Giáo dục và Nghiên cứu Liên bang Đức ký Bản ghi nhớ về việc đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu trong lĩnh vực công nghệ sinh học tháng 9/2000, theo đó Đức đào tạo 15 tiến sĩ cho Việt Nam trong lĩnh vực này với tổng kinh phí 3,6 triệu Euro trong thời gian từ 2003-2008. Hiện 15 tiến sỹ được đào tạo trong chương trình này đang làm việc tại các cơ sở nghiên cứu của ta, góp phần phát triển ngành công nghệ sinh học của Việt
+ Bộ KHCN và Bộ Giáo dục và Nghiên cứu Liên bang Đức ký Bản ghi nhớ về hợp tác nghiên cứu môi trường và xử lý nước thải tháng 10/2005, theo đó Đức cấp khoảng 23 triệu Euro cho Chương trình hợp tác nghiên cứu này.
+ Ngoài ra, phía Đức đã cử một số chuyên gia tư vấn có kinh nghiệm sang công tác tại Viện Chiến lược và Chính sách khoa học và công nghệ của Bộ KHCN để hỗ trợ thường xuyên về nghiên cứu chính sách trong khuôn khổ dự án “Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ cho Việt Nam“ v.v...
VI. Quan hệ hợp tác với các Bang:
Bên cạnh quan hệ với Việt
VII. Cộng đồng người Việt tại Đức:
Theo công bố của Đức, hiện nay số người Việt Nam ở Đức vào khoảng 100.000, trong đó 20% đã nhập quốc tịch Đức; 85 % trong số còn lại đã có quy chế cư trú hợp pháp. Nhìn chung, kiều bào ở Đức có cuộc sống tương đối ổn định, đa số theo diện làm công ăn lương, số đông hướng về quê hương, giúp đỡ thân nhân, không tham gia các tổ chức, đảng phái phản động chống Việt
Tại Đức, các hình thức tập hợp hội đoàn của người Việt khá đa dạng như Hội người Việt Nam, Hội Đức- Việt, các hội đồng hương, câu lạc bộ thơ - văn, nhiếp ảnh, tổ chức xã hội từ thiện,… Đa số các tổ chức hội đoàn của người Việt có tinh thần yêu nước, là cầu nối quan trọng giữa các CQĐD của Việt Nam tại Đức và cộng đồng, tích cực vận động bà con hướng về quê hương. Thế hệ người Việt thứ hai ở Đức hội nhập khá thành công, được chính quyền sở tại đánh giá cao và hiếm thấy trong các cộng đồng nhập cư ở Đức (hơn 50% học sinh đỗ trung học (gymnasium) hạng ưu, nhiều em là thành viên các đội tuyển học sinh xuất sắc của Đức như toán, võ thuật, thơ, văn, âm nhạc...)./.
Tháng 7/2011
[1] từ tháng 30/6/2010
[2] từ tháng 9/2005
[3] từ tháng 9/2009
[4] từ tháng 9/2005
[5] Nguồn: Tổng Cục Thống kê Liên bang. Sách đã dẫn (chưa có Sách thống kê 2011)
[6] Sách đã dẫn.
[7] 2: CHDC Đức và CHLB Đức; 4: Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp.
[8] Nguồn: Bộ Công Thương.
[9] Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
[10] Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư




