THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC
Cộng hoà Liên bang Đức nằm ở trung tâm châu Âu, có biên giới với Đan Mạch ở phía Bắc; Pháp, Hà Lan, Bỉ và Luxemburg ở phía Tây; Thụy Sĩ và Áo ở phía Nam; Séc, Slovakia và Ba Lan ở phía Đông. Đức nằm ở vị trí bản lề giữa Đông và Tây Âu, giữa bán đảo Skandinavia và Địa Trung Hải.
- Diện tích: 356.975 km2
- Dân số: khoảng 86 triệu người;
- Ngôn ngữ: Tiếng Đức
- Quốc khánh: Ngày 3 tháng 10
- Tổ chức hành chính: CHLB Đức có 16 Bang, đứng đầu mỗi Bang là một Thủ hiến bang;
- Lãnh đạo chủ chốt: Tổng thống Christian Wulff (Đảng CDU) từ 01/07/2010; Thủ tướng Angela Merkel (Đảng CDU) từ 2005 (nhiệm kỳ thứ 2 từ tháng 10/2009); Chủ tịch Quốc hội Liên bang Norbert Lammert (Đảng CDU) từ 2005 (nhiệm kỳ 2 từ tháng 10/2009); Bộ trưởng Ngoại giao Guido Westerwelle (Đảng FDP) từ tháng 10/2009.
- Tài nguyên: CHLB Đức là nước có ít tài nguyên khoáng sản, nhưng có nhiều sông ngòi có giá trị lớn về kinh tế, đặc biệt rất thuận lợi cho giao thông vận tải và thủy điện. Các sông lớn chảy qua CHLB Đức là sông Rhein, Elbe, Main, Weser, Danuyp và Spree.
1. Lịch sử:
Sau chiến tranh Pháp - Phổ (1870 – 1871) các nhà nước Nam Đức hợp nhất với Hiệp hội các Nhà nước Bắc Đức lập ra Đế chế Đức. Ngày 18/01/1871, Vua Phổ Wilhelm Đệ nhất được phong Hoàng đế. Otto von Bismarck (1815 – 1898), người có công rất lớn trong việc tập hợp các nhà nước cắt cứ Đức thành một nước Đức thống nhất, làm Thủ tướng suốt 19 năm.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, nước Đức bị chia cắt thành hai quốc gia: CHLB Đức và CHDC Đức.
- Ngày 7/9/1949, ở phần đất phía Tây đã tổ chức tuyển cử, bầu Nghị viện Tây Đức và tuyên bố thành lập nước CHLB Đức.
- Ngày 7/10/1949, ở phần phía Đông, nước CHDC Đức được thành lập.
- Ngày 3/10/1990, CHDC Đức sát nhập vào CHLB Đức thành nước Đức thống nhất và ngày này được coi là ngày Quốc khánh của nước CHLB Đức.
- Ngày 24/6/1991, Quốc hội CHLB Đức đã bỏ phiếu chọn Berlin làm Thủ đô của CHLB Đức.
2. Hệ thống chính trị:
Quốc hội Đức có Hội đồng liên bang (Bundesrat) gồm 69 đại biểu và Quốc hội liên bang (Bundestag) gồm 622 đại biểu.
- Hội đồng Liên bang (Thượng viện): là cơ quan đại diện của 16 bang, không phải do tổng tuyển cử bầu ra mà do Quốc hội các bang cử với số lượng tỉ lệ thuận với dân số của từng bang. Những đạo luật quan trọng sau khi đã được Quốc hội thông qua phải được Hội đồng liên bang chuẩn y thì Tổng thống mới phê duyệt. Thủ hiến các bang thay nhau làm Chủ tich Hội đồng liên bang với thời hạn 1 năm. Chủ tịch Hội đồng liên bang thực hiện các công việc của Tổng thống khi Tổng thống vắng mặt.
- Quốc hội liên bang (Hạ viện): là đại diện của nhân dân được bầu theo mỗi khoá kéo dài 04 năm. Hiến pháp quy định các đảng chỉ được vào Quốc hội khi đạt 5% phiếu trở lên trong các cuộc tổng tuyển cử.
Chính phủ hiện nay là Chính phủ liên minh giữa Đảng Liên minh Dân chủ Thiên chúa giáo (CDU/CSU) và Đảng Dân chủ tự do (FDP).
3. Kinh tế:
Đức thực hiện đường lối “Kinh tế thị trường xã hội” với phương châm “ít nhà nước như có thể, nhiều nhà nước như cần thiết”. Nhà nước không can thiệp vào việc hình thành giá cả và lương bổng mà chỉ tạo điều kiện khung cho các quá trình kinh tế phát triển sao cho có hiệu quả cao và đảm bảo công bằng và ổn định xã hội.
Đức là một trong những nước công nghiệp phát triển nhất thế giới, đứng thứ 4 thế giới sau Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc về GDP, đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu (sau Trung Quốc). Các ngành công nghiệp chủ yếu là: Chế tạo xe hơi, chế tạo máy móc, thiết bị, công nghiệp hoá chất, công nghiệp kỹ thuật điện và điện tử. Từ 1975 Đức là thành viên của G8.
- GDP 2009 đạt 2.404,40 tỷ USD, đứng thứ 4 thế giới sau Mỹ,Nhật Bản và Trung Quốc (trong đó nông nghiệp chiếm 0,9%, công nghiệp chiếm 30,1% và dịch vụ chiếm 69%).
- Tăng trưởng kinh tế năm 2009 giảm mạnh, còn -5% do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu (Năm 2008 đạt 1,3 %). Đức là một trong những quốc gia phục hồi nhanh nhất sau khủng hoảng kinh tế. Mức độ tăng trưởng năm 2010 đã đạt 3,5%, cao hơn so với dự kiến lúc đầu là 1,2 - 1,5%.
- Tỷ lệ thất nghiệp 2010: 2.945.491 người (tương đương 7,0 %).
4. Chính sách đối ngoại và an ninh:
Hiện Đức là thành viên tích cực và có vai trò quan trọng tại EU, NATO, OECD, LHQ....
- Cơ sở chính sách đối ngoại: Đức ủng hộ một thế giới đa cực, tôn trọng luật pháp quốc tế, đấu tranh cho nhân quyền, đối thoại, phòng ngừa khủng hoảng, tránh sử dụng bạo lực và kiến tạo lòng tin.
- Ưu tiên đối ngoại và an ninh: Nhất thể hoá châu Âu, quan hệ với Mỹ, toàn cầu hoá, chống khủng bố, giải quyết xung đột khu vực.
- Vai trò LHQ và NATO: Đức cho rằng LHQ đóng vai trò then chốt trong việc giải quyết các thách thức to lớn trong thế kỉ 21, cần cải cách HĐBA LHQ theo hướng cân đối hơn giữa các khu vực. NATO là công cụ không thể thiếu được đối với ổn định của Châu Âu; cần thích ứng hơn với môi trường an ninh đã thay đổi.
Đức nỗ lực tăng cường quan hệ với Nga, Đông Âu; thực hiện chính sách ngoại giao cân bằng trong quan hệ với các nước Trung-Đông, đặc biệt trong mối quan hệ giữa Pa-let-xtin và I-xra-en.
Đức ngày càng coi trọng phát triển các mối quan hệ với châu Á - Thái Bình Dương, trước hết với Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ.
Với châu Phi, Đức quan hệ ở mức thấp, chủ yếu dưới hình thức viện trợ nhân đạo và viện trợ phát triển cho một số nước nghèo./.
QUAN HỆ VIỆT NAM – CHLB ĐỨC
1. Quan hệ chính trị, ngoại giao:
Hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 23/9/1975.
Trao đổi đoàn cấp cao:
Đoàn Việt Nam thăm Đức: Thủ tướng Võ Văn Kiệt (1993); Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh (1993); Thủ tướng Phan Văn Khải (2001); Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh (2004); Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (2008); Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm (2010).
Đoàn Đức thăm Việt Nam: Thủ tướng Helmut Kohl (1995); Chủ tịch Quốc hội Liên bang Wolfgang-Thierse (2001); Thủ tướng Gerhard Schroeder (2003); Thủ tướng Gerhard Schroeder (2004); Chủ tịch Hội đồng Liên bang Matthias Platzeck (2005);Tổng thống Horst Koehler (2007); Chủ tịch Hội đồng Liên bang Harald Ringstorff (2007); Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Frank-Walter Steinmeier (2008); Bộ trưởng Hợp tác phát triển Dirk Niebel (2010).
Ngoài ra, trong năm 2009 có gần 50 đoàn các Bộ, ngành của Việt Nam sang thăm và làm việc tại Đức và hơn 10 đoàn Đức vào Việt Nam, hơn nửa trong số đó thuộc lĩnh vực kinh tế - thương mại-đầu tư.
Từ nhiều năm nay Đức là một trong những đối tác quan trọng nhất của Việt Nam ở châu Âu. Chính giới Đức, dù là đảng cầm quyền hay đối lập, đều đánh giá cao sự phát triển và vị trí của Việt Nam ở khu vực Đông Nam Á. Sự tin cậy và hiểu biết lẫn nhau giữa hai nước ngày càng được tăng cường thông qua duy trì trao đổi đoàn cấp cao và cơ chế tham vấn chính trị giữa hai Bộ Ngoại giao (cấp Thứ trưởng và cấp Vụ trưởng khu vực) được thiết lập từ 2008 nhằm bàn phương hướng tăng cường hợp tác song phương và trao đổi các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm. Tại phiên tham vấn cấp Thứ trưởng Ngoại giao hai nước đầu tiên (19/2/2009), Bộ Ngoại giao hai nước đã ký Bản Ghi nhớ về hợp tác, trong đó đề ra các mục tiêu và biện pháp cụ thể tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực ưu tiên.
2. Quan hệ kinh tế - thương mại – đầu tư:
Đức là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam ở châu Âu, chiếm 19% xuất khẩu của ta sang EU (vượt xa các thành viên EU khác, bằng cả Anh và Pháp cộng lại); và cũng là cửa ngõ trung chuyển quan trọng của hàng hoá Việt Nam sang các thị trường khác ở châu Âu. Tổng giá trị trao đổi thương mại hai nước năm 2010 ước tính trên 3,5 tỷ USD (Nguồn: Bộ Công Thương).
Các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu chủ yếu sang Đức theo thứ tự tổng trị giá là giày dép, hàng dệt may, cà phê hạt, đồ gỗ, thủy sản, đồ da v.v.., và nhập từ Đức chủ yếu là máy móc, thiết bị kỹ thuật.
Là nền kinh tế hướng tới xuất khẩu, Đức coi Việt Nam là thị trường có tiềm năng phát triển nhanh ở Châu Á (chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ) và nhiều tập đoàn hàng đầu của Đức (Siemens, Metro, Mercedes-Benz, Deutsche Bank, Allianz...) cam kết đầu tư lâu dài ở Việt Nam.
Tuy nhiên, đầu tư của Đức vào Việt Nam vẫn ở mức rất khiêm tốn so với tiềm năng và mong muốn hai bên. Tính đến tháng 11/2010, Đức có 153 dự án với tổng vốn đăng ký vào khoảng 801 triệu USD, đứng thứ 24 trong tổng số 93 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam.
Đầu tư của Đức chủ yếu tập trung vào các ngành sản xuất công nghiệp, dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ bán lẻ, công nghệ phần mềm, thông tin truyền thông, dịch vụ ngân hàng, tài chính, bảo hiểm v.v.. phân bố ở 22 tỉnh, thành của Việt Nam, trong đó tập trung tại Tp. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương và Đồng Nai.
3. Quan hệ hợp tác phát triển:
Đức là một trong những nước viện trợ nhiều và thường xuyên ODA cho Việt Nam. Từ năm 1990 đến nay, Đức đã cung cấp trên 1 tỷ Euro cho các dự án ODA tại Việt Nam.
Tại Hội nghị các nhà tài trợ cho Việt Nam tháng 12/2010, Đức cam kết viện trợ cho Việt Nam 198 triệu USD cho 2011 (tăng 46 % so với cam kết cho năm 2010).
ODA của Đức tập trung chủ yếu vào 3 lĩnh vực trọng tâm sau đây:
- Hỗ trợ các chính sách cải cách, bao gồm cả thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân và đào tạo nghề.
- Môi trường, bảo vệ và sử dụng lâu dài nguồn tài nguyên thiên nhiên bao gồm cung cấp nước và xử lý nước và rác thải,
- Y tế, kế hoạch hóa gia đình, phòng chống HIV/AIDS.
Ngoài ra, Đức còn đóng góp cho các chương trình về Hợp tác phát triển của các tổ chức hợp tác phát triển quốc tế như Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển châu Á và các chương trình phát triển khác của EU.
4. Quan hệ hợp tác văn hóa, giáo dục:
Năm 1990, Việt Nam và Đức ký Hiệp định hợp tác văn hoá tạo tiền đề cho việc thúc đẩy hợp tác và trao đổi văn hóa giữa hai nước. Được sự cho phép của Chính phủ Việt Nam, năm 1997 Đức thành lập Trung tâm văn hoá Đức (hay còn còn gọi là Viện Gớt) tại Hà Nội. Đây là địa điểm thường xuyên tổ chức các hoạt động nhằm giới thiệu văn hóa Đức và giảng dạy tiếng Đức tại Việt Nam. Việt Nam cũng thường xuyên cử các đoàn nghệ thuật sang phục vụ bà con Việt kiều tại Đức, đồng thời qua đó giới thiệu nền nghệ thuật Việt Nam tới công chúng Đức.
Hợp tác giáo dục và đào tạo giữa hai nước trong thời gian qua đạt được nhiều kết quả tốt đẹp. Hàng năm, Đức cấp cho Việt Nam nhiều học bổng đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ. Hiện có khoảng 300 nghiên cứu sinh Việt Nam nhận học bổng của Đức đang học tập và nghiên cứu tại Đức. Ngoài ra, các cơ quan chức năng của hai nước đang tích cực triển khai Chương trình đào tạo 85 nghiên cứu sinh/năm tại bang Hessen của Đức.
Điển hình trong số các dự án hợp tác giáo dục – đào tạo hai nước là dự án Trường Đại học Việt- Đức được thành lập từ tháng 9/2008 tại Tp. Hồ Chí Minh với sự hỗ trợ tích cực của Tổ chức DAAD và bang Hessen (Đức). Trường hoạt động theo mô hình của đại học Đức và đạt chuẩn quốc tế về chất lượng.
Ngoài ra, Đức còn có các dự án hỗ trợ các cơ sở đào tạo tiếng Đức tại Việt Nam về trang thiết bị đào tạo, cung cấp giáo viên bản ngữ và cấp học bổng cho giáo viên cũng như các sinh viên, học sinh đạt kết quả học tập xuất sắc.
5. Quan hệ hợp tác khoa học- kỹ thuật:
Trước năm 1995, hợp tác khoa học và công nghệ giữa Việt Nam và CHLB Đức được thực hiện chủ yếu thông qua các chương trình đào tạo, nâng cao trình độ cho các cán bộ nghiên cứu với sự tài trợ của Cơ quan trao đổi Hàn lâm Đức (DAAD), Quỹ khoa học trẻ Alexander & Humboldt, Quỹ đào tạo chuyên gia trong ngành công nghiệp (CDG), Quỹ phát triển (DSE)...
Kể từ sau khi ký Nghị định thư hợp tác nghiên cứu khoa học giữa Bộ Khoa học và Công nghệ (KHCN) và Bộ Liên bang về Giáo dục và Nghiên cứu Đức (BMBF) năm 1996, hợp tác về khoa học, công nghệ giữa hai nước đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Hai bên thường xuyên trao đổi các đoàn nghiên cứu khoa học, tổ chức hội nghị, hội thảo chuyên ngành và triển khai các dự án nghiên cứu chung với sự tham gia của các chuyên gia hai bên. Hiện nay, Việt Nam là một trong ít nước ở châu Á có chương trình hợp tác tương đối lớn với Đức về khoa học-công nghệ.
Tháng 10/2005, Bộ KHCN và Bộ Liên bang về Giáo dục và Nghiên cứu Đức ký Biên bản ghi nhớ về hợp tác nghiên cứu môi trường và xử lý nước thải, theo đó Đức cấp khoảng 23 triệu Euro cho Chương trình hợp tác nghiên cứu trong lĩnh vực này.
Trong khuôn khổ dự án “Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ cho Việt Nam“, phía Đức đã cử một số chuyên gia tư vấn có kinh nghiệm sang công tác tại Viện Chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ của Bộ KHCN để hỗ trợ thường xuyên về nghiên cứu chính sách.
6. Quan hệ hợp tác quốc phòng:
Từ năm 2003, Việt Nam cử Tùy viên Quốc phòng tại Berlin và Đức cử Tùy viên Quốc phòng tại Băng Cốc - Thái Lan kiêm nhiệm Việt Nam. Tháng 08/2004, hai bên ký Thỏa thuận về việc Đức viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam một số trang thiết bị quân y.
Tháng 10/2004, Bộ trưởng Quốc phòng Phạm Văn Trà thăm Đức. Trong chuyến thăm, hai bên đã ký kết thỏa thuận về việc Đức giúp Việt Nam đào tạo một số sỹ quan quân đội. Từ 2005 đến nay đã có 6 đoàn của Bộ Quốc phòng Đức thăm Việt Nam và 14 đoàn Việt Nam thăm Đức, trong đó đáng chú ý là chuyến thăm Đức của Thượng tướng Bùi Văn Huấn, Phó Chủ nhiệm Tổng Cục Chính trị nhằm tìm hiểu về chính sách xã hội đối với quân nhân của Đức.
Kể từ 2006, hàng năm Đức dành cho Việt Nam 6 - 7 học bổng sang học tập tại các trường của Quân đội Đức. Cho đến nay đã có 18 sỹ quan quân đội của ta được sang học và thực tập tại các trường của Quân đội Đức. Từ 2005, Đức còn mở một số khóa học tiếng Đức tại Hà Nội cho các sĩ quan của Việt Nam chuẩn bị sang Đức học tập tại Đức.
7. Cộng đồng người Việt tại Đức:
Hiện nay cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống ở Đức có khoảng trên 100.000 người, trong đó có khoảng 80.000 người đã được Đức cho cư trú dài hạn. Nhìn chung, công dân Việt Nam được cư trú hợp pháp ở Đức có điều kiện sinh hoạt và làm việc khá ổn định.
8. Quan hệ hợp tác với các Bang:
Bên cạnh quan hệ với Việt Nam ở cấp Chính phủ, các tiểu Bang ở Đức rất chủ động tăng cường hợp tác với Việt Nam. Đến nay, ta đã đón nhiều Lãnh đạo các bang của Đức sang thăm Việt Nam như Thủ hiến Bang Brandenburg (2005), Bang Bayern (2007), Bang Mecklenburg-Vorpommern (9/2010), Bang Hessen (10/2010), Bang Baden-Wuerttemberg (11/2010). Trong quan hệ hợp tác với các bang của Đức, ta đã tranh thủ được thế mạnh của Bạn trong các lĩnh vực văn hoá - giáo dục, khoa học kỹ thuật công nghệ cao, giao thông vận tải. Một số dự án tiêu biểu trong hợp tác với các bang là Trường Đại học Việt - Đức (hợp tác với Bang Hessen), dự án đường sắt "Vietnamese Green Line" (hợp tác với Bang Brandenburg) với mục tiêu nâng tốc độ của tàu lên 160km/h mà không phải thay đổi khổ đường sắt hiện nay nhằm tiết kiệm chi phí./.
Tháng 3/2011




